Thứ Ba, 15 tháng 11, 2011

Vị Sa Môn





(IX) (239) Vị Sa Môn
1.- Chỉ ở đây, này các Tỷ-kheo, có Sa-môn thứ nhất, có Sa-môn thứ hai, có Sa-môn thứ ba, có Sa-môn thứ tư, còn ngoại đạo khác không có Sa-môn. Như vậy, này các Tỷ kheo, các Thầy chơn chánh rống tiếng rống con sư tử.
2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Sa-môn thứ nhất?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn diệt ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn hướng đến giác ngộ. Này các Tỷ-kheo, người này là Sa-môn thứ nhất.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Sa-môn thứ hai?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Các Tỷ-kheo do đoạn diệt ba kiết sử, do làm cho nhẹ bớt tham và sân, là bậc Nhất Lai, còn đi lại thế giới này một lần nữa, rồi đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây là Sa-môn thứ hai.
4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Sa-môn thứ ba?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh tại đấy, chứng Niết-bàn, không phải trở lui từ thế giới ấy. Này các Tỷ-kheo, đây là Sa-môn thứ ba.
5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Sa-môn thứ tư?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn diệt các lậu hoặc, tự mình với thắng trí ngay trong hiện tại, chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây là Sa-môn thứ tư.
Chỉ ở đây, này các Tỷ-kheo, có Sa-môn thứ nhất, ở đây có Sa-môn thứ hai, ở đây có Sa-môn thứ ba, ở đây có Sa-môn thứ tư, còn ngoại đạo khác không có Sa-môn. Như vậy, này các Tỷ kheo là chơn chánh rống tiếng rống con sư tử này.

Thứ Hai, 14 tháng 11, 2011

MITIEN VAN DAP








212. Về con chồn
- Tâu đại vương! Con chồn khi vào hang, đánh được mùi rắn, cơ thể nó tự động toát ra một loại mồ hôi khiến rắn không thể xâm phạm được. Vị tỳ khưu khi đi vào giữa thế gian, dẫy đầy những người phức tạp như: ưa tranh cãi, gây sự, hiềm hại, áp bức nhau - nên xoa lên người một lớp tâm từ thì sẽ được bình yên vô sự. Đúng như đức Pháp chủ có thuyết: "Vị tỳ khưu phải có tâm vô lượng, quảng đại, dù kẻ nghịch với ta đông đến số trăm, số ngàn cũng phải rải tâm từ đồng đều cả thảy. Đấy là lời giáo huấn của chư Phật."


NAM NGU


Nằm ngủ như thế nào tốt nhất?
Ngủ nằm sấp, nằm nghiêng bên trái sẽ có nguy cơ mắc bệnh tim. Nằm nghiêng bên trái cũng có nguy cơ đau dạ dày... Vậy tư thế nào là tối ưu cho sức khỏe?
Nằm nghiêng bên trái và bệnh dạ dày
Bệnh dạ dày là bệnh rất thường gặp trong cuộc sống, chủ yếu có loét dạ dày, các dạng viêm dạ dày và chướng ngại chức năng tiêu hoá. Nhìn từ góc độ giải phẫu học, khúc cong dạ dày và dạ dày thông với 12 khúc đường ruột, đầu ra của ruột non thông với ruột già đều ở bên trái.
Nằm nghiêng khi ngủ sẽ làm cho dạ dày trào ngược thực quản, số lượng dịch thể mang tính axit sẽ nhiều hơn bình thường, cứ thế tiếp tục không ngừng, và dễ gây ra đau từng cơn ở vùng dạ dày, từ đó dẫn đến bệnh dạ dày. Vì vậy, khi ngủ nằm nghiêng bên phải sẽ không chèn ép được các cơ quan này và có lợi cho việc vận chuyển của thức ăn trong đường tiêu hoá thông suốt từ trên xuống dưới.
Ảnh minh họa.
Nằm sấp, nằm nghiêng bên trái và bệnh tim
Nghiên cứu chỉ rõ, nằm sấp dễ làm cho đường hô hấp “mất tự do”, chèn ép nội tạng, gây ra ác mộng khi ngủ và ảnh hưởng đến tuần hoàn máu của da ở vùng mặt, làm cho da dễ lão hoá.
Nằm nghiêng bên trái khi ngủ sẽ làm cho nhiều cơ quan bị chèn ép khiến dạ dày tiêu hóa chậm, hơn nữa còn làm cho áp lực tim tăng lên, không có lợi cho việc vận chuyển máu của tim và cũng dễ gây ra ác mộng.
Những người bị bệnh tim khi ngủ nằm nghiêng bên phải là tốt nhất. Bởi vì tim nằm ở bên trái lồng ngực, nằm nghiêng bên phải sẽ làm cho máu lưu thông về bên phải nhiều hơn, như thế sẽ giảm nhẹ được gánh nặng cho tim. Nếu đã có triệu chứng suy tim, có thể dùng biện pháp nằm nửa người để giảm bớt khó thở, kỵ nằm sấp và nằm nghiêng bên trái.
Đặc biệt khuyến cáo những người mắc bệnh động mạch vành, những người đau tim theo từng cơn thì nên ngủ ở giường nghiêng từ 10-15 độ, nửa người ở phía trên cao, nửa người dưới thấp, làm cho máu lưu thông dưới khoang tĩnh mạch giảm đi, có lợi cho tim nghỉ ngơi.
Gối quá thấp và cao huyết áp
Ngủ gối quá thấp sẽ làm cho lưu lượng máu ở vùng não tăng lên, lâu dài có thể dẫn bệnh cao huyết áp. Ngủ gối quá cao cũng sẽ rất không tốt. Thông thường, gối cao khoảng 15cm là thích hợp nhất.
Ngoài ra, người bị khí thũng khi nằm ngủ cũng phải chú ý tư thế: nên nằm ngửa và kê cao đầu, đôi tay hơi hướng về phía trên để giữ cho hô hấp được thông suốt. Những người bị bệnh lao phổi thì lại nên nằm nghiêng, để có lợi cho việc khạc nhổ ra máu tích tụ trong khí quản.
So sánh ưu nhược điểm của tư thế nằm
Ưu điểm của việc nằm nghiêng bên phải: Nằm nghiêng bên phải có thể làm cho cơ bắp toàn thân thoải mái, hô hấp thông suốt, còn có thể làm cho chức năng sinh lý của tim, phổi và dạ dày, đường ruột giảm xuống mức độ thấp nhất, lúc này tim không bị chèn ép, phổi hô hấp tự nhiên, đảm bảo đầy đủ dưỡng khí cần thiết cho cơ thể trong khi ngủ. Do đầu ra của dạ dày là ở phía dưới, vì thế nên cũng rất có lợi cho việc đào thải các vật phẩm trong dạ dày ra ngoài.
Khuyết điểm của nằm nghiêng bên phải: Nằm nghiêng bên phải có thể làm cho thân thể và tứ chi bên phải bị chèn ép, ảnh hưởng đến sự lưu thông của máu, từ đó xuất hiện các chứng tê, mỏi, đau.
Ưu điểm của nằm ngửa: Khi nằm ngửa, diện tích tiếp xúc giữa thân thể và giường là lớn nhất, vì vậy không dễ bị mệt mỏi, hơn nữa còn có lợi cho tuần hoàn máu của não bộ và cơ thể.
Khuyết điểm của nằm ngửa: Một số người già, trung niên, đặc biệt là những người béo phì, khi nằm ngửa dễ làm cho cuống lưỡi thu lại về phía sau, gây ra hô hấp không thông suốt, từ đó gây ra tiếng ngáy khi ngủ, ngáy to không những ảnh hưởng đến nghỉ ngơi của người khác mà còn có thể ảnh hưởng đến sự trao đổi khí thể trong phổi, gây ra chứng máu ô xy thấp. Khi nằm ngửa, tay dễ đặt trước ngực chèn ép công việc của tim nên dễ gây ra ác mộng.
Vì thế, chuyên gia kiến nghị, khi ngủ không nên chọn tư thế nằm nghiêng bên trái và nằm sấp, tốt nhất là nằm nghiêng bên phải và nằm ngửa. Những người ngủ hay ngáy, những người bị bệnh viêm dạ dày, sa dạ dày, tiêu hoá không tốt thì nằm nghiêng bên phải là cách lựa chọn toàn vẹn nhất.
Theo Dân Trí
http://giadinh.net.vn/PrintPreview.aspx?NewsID=20091102023127796

Hallo,
die gesündeste Position ist die Seitenlage, allerdings gehört da etwas mehr zu als sich nur einfach auf die Seite zu legen.
Man braucht als erstes ein Kopfkissen, das sich dem Kopf und dem Nacken optimal anpasst, damit die Wirbelsäule gerade ist. Man kann nach belieben entweder nur ein Bein oder beide anwinkeln. Wenn nur ein Bein angewinkelt wird, sollte man das oben liegende anwinkeln und es mit einer Nackenrolle oder einer gefalteten Decke stützen damit es nicht vorn überkippt, sonst hätte man ja wieder eine Drehung in der Wirbelsäule. Wenn beide Beine angewinkelt werden, ist es gut für die Knie und auch wieder für die Wirbelsäule sich ein gefaltetes Handtuch oder ein dünnes Kissen zwischen die Knie zu legen (sonst wäre da wieder die leichte Drehung in der Wirbelsäule).

In der Reha-Klinik haben sie das gezeigt, ich bin da gewesen wegen nem Bandscheiben-Vorfall. Ist reine Gewohnheitssache so zu liegen.

Ich hoffe ich konnte helfen, hört sich komplizierter an als es ist.. Probier es einfach aus ;o))



http://de.answers.yahoo.com/question/index?qid=20060821102527AA7JZSp

8 PHAP THE GIAN/TANG CHI CHUONG 8 PHAP




GIOI THIEU

BAT PHONG LA 8 NGON GIO DOI:
1. DUOC VA MAT
2. LEN VOI XUONG CHO
3. KHEN VA CHE
4. HANH PHUC VA DAU KHO

TRONG KINH TANG CHI, CHUONG 8 PHAP, PHAM TU/NIKAYA DA VIET NHU SAU:


(V) (5) Tùy Chuyển Thế Giới (1)
1. - Tám pháp thế gian này, này các Tỷ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này. Thế nào là tám?
2. Lợi dưỡng và không lợi dưỡng, danh vọng và không danh vọng, tán thán và chỉ trích, lạc và khổ.
Tám pháp thế gian này, này các Tỷ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này.
Lợi dưỡng, không lợi dưỡng,
Danh vọng, không danh vọng
Tán thán và chỉ trích
An lạc và đau khổ
Những pháp này vô thường
Không thường hằng biến diệt
Biết chúng giữ chánh niệm
Bậc trí quán biến diệt
Pháp khả ái, không động
Không khả ái, không sân
Các pháp thuận hay nghịch
Ðược tiêu tan không còn
Sau khi biết con đường
Không trần cấu, không sầu
Chơn chánh biết sanh hữu
Ði đến bờ bên kia.


 http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi08-0103.htm

Thứ Bảy, 12 tháng 11, 2011

CHAP THU/TRICH





Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ những gì được thấy, được nghe, được cảm thọ, được nhận thức, được hy cầu, được tư sát với ý, và tôi sẽ không có thức y cứ vào các pháp (nói trên)". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung143.htm

Duy ma cat sở thuyết kinh (zh. 維摩詰所說經





TIM HIEU KINH DUY MA CAT RA DOI LUC NAO?

Kinh xuất hiện khoảng thế kỉ thứ 2 sau Công nguyên. Xin xem phia duoi:

Trich:

Duy-ma-cật sở thuyết kinh (zh. 維摩詰所說經, sa. vimalakīrtinirdeśa) là một tác phẩm quan trọng của Phật giáo Đại thừa, có ảnh hưởng rất lớn đến nền Phật giáo tại Trung QuốcViệt Nam và Nhật Bản. Kinh xuất hiện khoảng thế kỉ thứ 2 sau Công nguyên, mang tên của Duy-ma-cật (sa. vimalakīrti), một cư sĩ giàu có, sống cuộc đời thế tục nhưng vẫn đi trên con đường Bồ Tát. Nhờ kinh này mà người ta có thể xem cư sĩ và tăng sĩ có một mục đích như nhau trên đường tiến đến giác ngộ.
Điều may mắn hiếm có là Phạn bản của kinh này - được cho là thất truyền từ bao nhiêu thế kỉ - đã được Giáo sư Takahashi Hisao (Cao Kiều Thượng Phu) phát hiện ngày 30 tháng 6 năm 1999, trong khi ông cùng nhóm nghiên cứu đang sưu tầm thư tịch trong thư viện của cung điện Potala, kinh đôLhasaTây Tạng. Sau hơn bốn năm nghiên cứu và kí âm la-tinh, bản này được nhóm Nghiên cứu Văn học Phật giáo Sanskrit, Viện Đại học Taisho,Tokyo (大正大學總合佛教研究所—梵語佛典研究會) phát hành tháng 3 năm 2004. Chất lượng văn bản khá tốt mặc dù còn nhiều lỗi ghi chép, cần được chỉnh lại trước khi dịch. Tuy nhiên, việc cho ra một bản khảo cứu vẫn còn là một điều đáp ứng được, đòi hỏi một công trình nghiên cứu, đối chiếu phục hồi văn bản hẳn hoi.
Có ba bản chữ Hán còn được lưu lại trong Đại Chính Tân Tu Đại tạng kinh:
  1. Phật thuyết Duy-ma-cật kinh (zh. 佛說維摩詰經), Taishō No. 474, 2 quyển, Chi Khiêm (zh. 支謙) dịch đầu thế kỉ thứ 3 sau CN.
  2. Duy-ma-cật sở thuyết kinh (zh. 維摩詰所說經), Taishō No. 475, 3 quyển, Cưu-ma-la-thập (zh. 鳩摩羅什, sa. kumārajīva) dịch đầu thế kỉ thứ 5 sau CN.
  3. Thuyết Vô Cấu Xưng kinh (zh. 說無垢稱經), Taishō No. 476, 6 quyển, Huyền Trang (zh. 玄奘) dịch giữa thế kỉ thứ 7 sau CN.
Bản Tạng văn mang tựa འཕགས་པ་དྲི་མ་མེད་པར་གྲགས་པས་བསྟན་པ་ཞེས་བྱ་བ་ཐེག་པ་ཆེན་པོའི་མདོ། ´phags pa dri ma med par grags pas bstan pa zhes bya ba theg pa chen po`i mdo. Chos nyid tshul khrims (sa. dharmatāśīla) dịch cuối thế kỷ 8. Bảng Tạng văn này được xem là giống bản gốc Phạn nhiều nhất. Bản gốc Phạn và bản dịch Tạng có 12 chương, trong khi ba bản Hán có 14 chương. Tên các chương của bản Phạn và Tạng gần như giống nhau hoàn toàn.
Ngoài các bản dịch Hán, Tạng nói trên còn nhiều bản dịch sang tiếng AnhPhápĐức quan trọng khác; được dịch từ các bản dịch Hán, Tạng nêu trên. Đáng kể nhất phải nói là bản dịch tiếng Pháp của Étienne Lamotte: L'Enseignement de Vimalakīrti (Vimalakīrtinirdeśa), Louvain, 1962.
Trong các bản dịch tiếng Việt thì bản của Thượng toạ Thích Tuệ Sỹ chỉnh hơn hết. Thượng toạ dịch từ bản Cưu-ma-la-thập, nhưng đối chiếu với hai bản Hán còn lại, thêm vào đó so với bản Phạn cũng như những bản chú giải căn bản của Khuy Cơ, Tăng Triệu, Cát Tạng, v.v...

Thứ Tư, 9 tháng 11, 2011

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xa hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.



Tran Nhan Tong