Thứ Tư, 12 tháng 6, 2013



Gioi thieu

Kinh moi quy vi doc mot doan trong Kinh
Trường Bộ Kinh/ Digha Nikaya
34. Kinh Thập thượng/(Dasuttara sutta)

ii) Thế nào là mười pháp cần phải tu tập?Mười biến xứ. 
Một vị nào biết được địa biến xứ: trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng. 
Một vị biết được thủy biến... 
Một vị biết được hỏa biến... 
Một vị biết được phong biến... 
Một vị biết được thanh biến... 
Một vị biết được hoàng biến... 
Một vị biết được xích biến... 
Một vị biết được bạch biến... 
Một vị biết được hư không biến... 
Một vị biết được thức biến xứ: trên dưới, ngang, bất nhị, vô lượng. 
Như vậy là mười pháp cần phải tu tập.

Như vậy mười pháp này là chơn, thực, như thị, không phải không như thị, không phải sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.

Thứ Sáu, 7 tháng 6, 2013

9 phap kho lanh hoi/Kinh truong bo so 34


Sartre va Simone de Beauvoir

Gioi thieu:

Hom nay ghe qua Dien Dan cac Su Nam truyen, duoc nghe thao luan ve mot doan trong Kinh Truog bo so 34.
Do do, xin dan lai vai chi tiet de ban doc thuong thuc.

(Cha) ‘‘katame nava dhammā duppaṭivijjhā? Nava nānattā – dhātunānattaṃ paṭicca uppajjati phassanānattaṃ, phassanānattaṃ paṭicca uppajjati vedanānānattaṃ, vedanānānattaṃ paṭicca uppajjati saññānānattaṃ, saññānānattaṃ paṭicca uppajjati saṅkappanānattaṃ, saṅkappanānattaṃ paṭicca uppajjati chandanānattaṃ, chandanānattaṃ paṭicca uppajjati pariḷāhanānattaṃ, pariḷāhanānattaṃ paṭicca uppajjati pariyesanānānattaṃ, pariyesanānānattaṃ paṭicca uppajjati lābhanānattaṃ. Ime nava dhammā duppaṭivijjhā.

http://www.tipitaka.org/romn/
--
(Cha) ‘‘katame nava dhamma duppativijjha? Nava nanatta – dhatunanattam paticca uppajjati phassananattam, phassananattam paticca uppajjati vedanananattam, vedanananattam paticca uppajjati sannananattam, sannananattam paticca uppajjati sankappananattam, sankappananattam paticca uppajjati chandananattam, chandananattam paticca uppajjati parilahananattam, parilahananattam paticca uppajjati pariyesanananattam, pariyesanananattam paticca uppajjati labhananattam. Ime nava dhamma duppativijjha.

HT Thich Minh Chau dich:

vii) Thế nào là chín pháp rất khó thể nhập? Chín loại sai biệt. Do duyên giới sai biệt, xúc sai biệt sanh; do duyên xúc sai biệt, thọ sai biệt sanh; do duyên thọ sai biệt; tưởng sai biệt sanh; do duyên tưởng sai biệt, tư duy sai biệt sanh; do duyên tư duy sai biệt, dục sai biệt sanh; do duyên dục sai biệt, nhiệt tình sai biệt sanh; do duyên nhiệt tình sai biệt; tầm cầu sanh; do duyên tầm cầu, sai biệt, đắc lợi sanh. Như vậy là chín pháp rất khó thể nhập.


Ban tieng Duc:

Was für neun Dinge sind schwer zu treffen?

Neun Arten der Verschiedenheit: 
  • aus verschiedener Stofflichkeit entsteht verschiedene Berührung, 
  • aus verschiedener Berührung entsteht verschiedenes Gefühl, 
  • aus verschiedenem Gefühl entsteht verschiedene Wahrnehmung, 
  • aus verschiedener Wahrnehmung entsteht verschiedene Absicht, 
  • aus verschiedener Absicht entsteht verschiedener Wille, 
  • aus verschiedenem Willen entsteht verschiedenes Fieber, 
  • aus verschiedenem Fieber entsteht verschiedenes Ersehnen, 
  • aus verschiedenem Ersehnen entsteht verschiedenes Erlangen; 
diese neun Dinge sind schwer zu treffen (*135).
--

Thứ Hai, 3 tháng 6, 2013

MAY MUA/ KINH TANG CHI-PHAM MAY MUA



XI. Phẩm Mây Mưa

(I) (101) Mây Mưa (1)

1. Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

2.- Này các Tỷ-kheo, có bốn loại mây mưa này. Thế nào là bốn? Có sấm, không có mưa; có mưa, không có sấm; không có sấm, cũng không có mưa; có sấm và có mưa. Này các Tỷ-kheo, có bốn loại mây mưa này.

3. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người được ví dụ với các loại mây mưa này, có mặt hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn? Hạng người có sấm, không có mưa; hạng người có mưa, không có sấm; hạng người không có sấm, không có mưa; hạng người có sấm và có mưa.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có sấm, không có mưa?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người có nói, không có làm. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người có sấm không có mưa. Ví như, này các Tỷ-kheo, loại mây có sấm, không có mưa ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng hạng người này giống như ví dụ ấy.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có mưa, không có sấm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người có làm, không có nói. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người có mưa, không có sấm. Ví như, này các Tỷ-kheo, loại mây chỉ có mưa, không có sấm ấy, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, hạng người này giống như ví dụ ấy.

6. Và này các Tỷ kheo, thế nào là hạng người không có sấm, cũng không có mưa?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không có nói, không có làm. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người không có sấm, không có mưa. Ví như, này các Tỷ-kheo, loại mây không có sấm, không có mưa ấy, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, hạng người này giống như ví dụ ấy.

7. Và này các Tỷ kheo, thế nào là hạng người có sấm và có mưa?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người có nói và có làm. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người có sấm và có mưa. Ví như, này các Tỷ-kheo, loại mây có sấm và có mưa ấy, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, hạng người này giống như ví dụ ấy.
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người giống như các loại mây này có mặt, hiện hữu ở đời.

(II) (102) Mây Mưa (2)

1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn loại mây mưa này. Thế nào là bốn? Có sấm, không có mưa; có mưa, không có sấm; không có sấm, không có mưa; có sấm và có mưa. Này các Tỷ-kheo, có bốn loại mây mưa này.

2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người được ví dụ như các loại mây mưa này, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn? Hạng người có sấm, không có mưa; hạng người có mưa, không có sấm; hạng người không có sấm, không có mưa; hạng người có sấm và có mưa.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có sấm, không có mưa?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người thuộc lòng Pháp, Khế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Kệ tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Quảng thuyết. Vị ấy không như thật quán tri: "Ðây là Khổ", ..."Ðây là Khổ tập", ... "Ðây là Khổ diệt", ... không như thật quán tri: "Ðây là con Ðường đưa đến Khổ diệt". Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người có sấm không có mưa. Ví như, này các Tỷ-kheo, loại mây có sấm, không có mưa ấy, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, hạng người này giống như ví dụ ấy.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có mưa, không có sấm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không có học thuộc lòng Pháp, như Khế kinh, ứng tụng, ... Quảng thuyết. Vị ấy như thật quán tri: "Ðây là Khổ", ..."Ðây là Khổ tập", ... "Ðây là Khổ diệt", ... như thật quán tri: "Ðây là con Ðường đưa đến Khổ diệt". Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người có mưa, không có sấm. Ví như, này các Tỷ-kheo, loại mây chỉ có mưa, không có sấm ấy. Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, hạng người này giống như ví dụ ấy.

5. Và này các Tỷ kheo, thế nào là hạng người không có sấm và không có mưa?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không học thuộc lòng Pháp như Khế kinh... Quảng thuyết. Vị ấy không như thật quán tri: "Ðây là Khổ", ..."Ðây là Khổ tập", ... "Ðây là Khổ diệt",... không như thật quán tri: "Ðây là con Ðường đưa đến Khổ diệt". Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người không có sấm, không có mưa. Ví như, này các Tỷ-kheo, loại mây không có sấm, không có mưa, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, hạng người này giống như ví dụ ấy.

6. Và này các Tỷ kheo, thế nào là hạng người có sấm và có mưa?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người học thuộc lòng Pháp như Khế kinh... Quảng thuyết. Người ấy như thật quán tri: "Ðây là Khổ", ..."Ðây là Khổ tập", ... "Ðây là Khổ diệt"... như thật quán tri: "Ðây là con Ðường đưa đến Khổ diệt". Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người có sấm và có mưa. Ví như, này các Tỷ-kheo, loại mây có sấm và có mưa ấy, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, người này giống như ví dụ ấy.

Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người giống như các loại mây này có mặt, hiện hữu ở đời.
--
http://budsas.110mb.com/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi04-0712.htm

VUI BUON


KHỔ VÀ VUI

Thích thiện Xuân

Xin chớ so đo khổ với vui
Có chi là khổ có chi vui
Vui trong tham dục vui là khổ
Khổ để tu hành khổ hoá vui
Đã biết có vui là có khổ
Thà rằng đừng khổ cũng đừng vui
Mong sao giữ tánh không vui khổ
Mới thoát ra ngoài lối khổ vui





Gioi thieu:
Mot ong ban hom nay nhac den mot bai hay cua DD Thich Tri Sieu, chung toi da doc va cho rang doc nhung suy nghi cua Thay Tri Sieu la ich loi.
Do do, chung toi gioi thieu tiep duoi day, de quy vi thuong thuc.

Ngã Tâm Linh
Thích Trí Siêu

Có nhiều người đi chùa nhưng họ đến để tìm một cái gì đó không liên quan đến việc tỉnh thức tâm linh. Người Tàu đến chùa cúng Phật rất nhiều, để cầu buôn may bán đắt, làm ăn phát đạt hoặc xin xăm xin quẻ, nếu được quẻ tốt thì mừng cúng Phật nhiều, nếu gặp quẻ xấu thì buồn bã bỏ về. Ðến chùa khấn vái xin xỏ như thế thì chùa có khác gì đình miếu. Nhưng khổ nỗi chính những hạng "Phật tử" như thế mới giúp cho chùa khá giả.

Người Việt Nam hiểu Ðạo hơn nên "Tu" cũng khá hơn, đến chùa tụng kinh lễ Phật, học Ðạo nghe pháp, làm công quả. Tụng kinh nhiều thì cho là mình tu nhiều, tu khá, hết tụng kinh bổn đến tụng kinh bộ, hết bộ này đến bộ khác. Lạy Phật thì lạy xong ngũ bách danh, đến tam thiên rồi vạn Phật, cho rằng lạy nhiều chừng nào thì tiêu tội chừng nấy. Học Ðạo nghe pháp cốt để áp dụng tu tâm sửa tánh, nhưng không như thế mà lại dùng kiến thức để phân biệt Thầy này hay Thầy kia dở. Thay vì làm công quả để học hạnh xả thí, lại làm công quả để kiếm điểm với Thầy trụ trì.

Khá hơn là những bậc xuất gia, từ bỏ nhà cửa vợ con đi tu. Nhưng một thời gian sau lại bám víu vào ngôi vị đạo đức của mình. Nói đến đây tôi nhớ lại chuyện của Tổ Huệ Khả. Trong 33 vị Tổ Thiền Tông, tôi thán phục nhất vị Tổ này, dám xả thí thân mạng, chặt tay cầu Ðạo. Là người kế thừa Tổ Ðạt Ma, sau cùng dám xả luôn ngôi chùa, bỏ luôn chức Tổ, chức Hoà Thượng, lăn xả vào chợ, đi vào cuộc đời để tự thử thách mình, tự chứng nghiệm và độ một tầng lớp khác. Người tu không khéo thường hay mắc phải bệnh "ngã tâm linh" (égo spirituel). Mới biết tu một chút tự cho là mình đạo đức. Tu hành chăm chỉ, được bao nhiêu công đức đều bị cái ngã hốt hết.

Tuy là một tu sĩ nhưng tôi không ưa chữ tu chút nào. Tôi đã một lần bày tỏ trong quyển Bố thí ba la mật. Tu đâu phải là làm những điều hình thức bên ngoài, đâu phải tính năm cộng tháng vào chùa. Khoác áo cà sa mà không hiểu bài học thương yêu, giảng nói từ bi mà chỉ biết ích kỷ củng cố địa vị đạo đức của mình. Ngạn ngữ có câu: "Chiếc áo không làm nên Thầy tu" kia mà! Ðối với tôi, tu là tập sống với tâm linh. Chữ tâm linh (spirituel) khác với vật chất (matériel). Tâm linh là tánh linh thiêng của con người, có thể gọi đó là Thượng Ðế, Phật tánh hay Chân ngã... Nhưng điều đó không quan trọng. Ðiều quan trọng đầu tiên là ta có biết đến tâm linh của mình hay không?

http://trisieu.free.fr/PhatPhap/04-PhapLuan/NgaTamLinh.htm





Biết sống thật với tình cảm, nội kết của mình hay không? Hay là chỉ thích đóng kịch, mượn danh nghĩa chữ tu để ngầm khoe khoang mình là người có tu, có đạo đức! Tôi tu vì tôi không phải là người đạo đức. Tôi tu vì tôi còn nhiều nội kết chưa được giải tỏa, còn nhiều bài học ở đời mà tôi chưa hiểu. Tôi tu vì tôi hãy còn phân biệt tốt xấu, ưa ghét. Hơn nữa bây giờ tôi không chắc là tôi còn tu theo ý nghĩa phổ thông nữa không, nhưng tôi biết là tôi muốn sống thật. Sống thật với chính mình, với cả tâm hồn và thể xác của mình. Tôi không muốn làm Thầy ai cả, nếu muốn thì chỉ làm Thầy chính mình mà thôi.




Có nhiều người chỉ thích đóng vai Thầy và muốn học trò hay đệ tử đóng mãi vai học trò đệ tử. Nhưng Thầy nào trò nấy, cũng có người thích đi tìm một vị Thầy, một đấng tôn sư bên ngoài để thờ phụng tôn kính. Theo tôi, một vị Thầy thật (chân Sư) là người dạy cho đệ tử nhận ra ông Thầy của chính mình bên trong (le maître intérieur). Ðức Phật là một chân Sư, ngài thành Phật và dạy cho chúng ta khai triển Phật tánh của mình để thành Phật như ngài. Ðức Phật đâu có muốn bị đúc tượng ngồi yên trên bàn thờ cho chúng ta hì hụp lạy ở dưới.


Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2013

THUA TU PHAP




THE NAO LA THUA TU PHAP?

Trong bai kinh Thua Tu Phap, đọc xong, toi hieu nhu sau:

Là người Phật tử, kế thừa sự nghiệp của Phật, ta cần học theo hạnh của ngài:

1. Thực hành những điều ngài đã dạy, tu tập Bát chánh đạo để giải thoát và thành người có đạo đức.

2. Cụ thể là cố gắng giảm thiểu sự tham dục, tham sân si, và những hành vi bất thiện. Nghĩa là từ bỏ: tham, sân, hiềm hận, giả dối, tâm hại, xan tham, tật đố, ngã mạn và phóng dật.(1)

Đó mới là thừa tự phap.

--
(1) Ni sư Trí Hải tóm tắt:

Thừa tự Pháp nghĩa là
Những gì Phật dạy bỏ
Ðệ tử hãy từ bỏ,
Tức là mười sáu pháp:
tham lam và giận dữ
phẫn nộ và hiềm hận
giả dối và não hại
tật đố và xan lẫn
man trá và phản bội
ngoan mê và bồng bột
ngã mạn và tăng thượng
phóng dật v
à tự kiêu.

Thứ Tư, 29 tháng 5, 2013

Muc dich viec hanh thien/ Chanh-Y



Tap thien co nhung loi ich nhu sau:

1. Thien la mot phuong tien de ta tu tap va huan luyen tam
2. Thien dinh giup ta vuot qua cac trien cai.
3. Chi co hanh thien moi giup hanh gia ly duc.
4. Hanh thien la huong ve thien.
5. Co hanh thien dinh, moi vung vang de hanh gia hanh thien minh sat.
6. Thien Minh sat/Vipassana co muc dich la thanh loc tam, giup hanh gia quen dan voi tam tinh thuc va xa ly.
7. Hanh thien la phuong tien de trai nghiem ve 3 thuc tuong cua phap: vo thuong, kho va vo nga.