Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2012

Học Pali qua kinh tụng/ Tỳ kheo Indacanda



LỜI MỞ ĐẦU
Công việc học tập và nghiên cứu ngôn ngữ của đức Phật là bổn phận của người Phật tử xuất gia và tại gia. Tuy rằng Pāli là một ngôn ngữ khó học so sánh với các ngôn ngữ khác, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta không thể tiếp thu ngôn ngữ ấy được. Công việc học tập và nghiên cứu Pāli cần nhiều nỗ lực và thời gian. Nhưng học ngôn ngữ Pāli theo phương thức nào là vấn đề quan trọng hơn cả. Nếu học theo trình tự của sách giáo khoa về văn phạm Pāli, người học dễ cảm thấy chán nản khi đối diện với các cuốn sách dày cộm; nhưng đến khi tiếp cận với các câu kinh Pāli vẫn có cảm giác như đang đối diện với một đám rừng chằng chịt. Việc học thuộc lòng các bài kinh Pāli song song với ý nghĩa tương ứng bằng tiếng Việt cũng không phải là cách hay. Điểm chính yếu là do việc học Pāli mà thiếu đi sự phân tích về văn phạm nên khi gặp một đoạn kinh có tương tợ cấu trúc vẫn không thể nhận ra được cách hành văn.
Một phương pháp mới để học ngôn ngữ là dựa trên vốn liếng căn bản đã có của học viên về ngôn ngữ ấy. Trong trường hợp này là các bài kinh tụng bằng tiếng Pāli mà Phật tử các nước quốc giáo đang đọc tụng hằng ngày. Chúng ta sẽ bắt đầu bằng những bài kinh ấy. Hiểu biết về văn phạm căn bản là điều cần thiết ví như danh từ là gì? Nhiệm vụ của tính từ, v.v... Những học viên đã có được phần văn phạm Pāli căn bản sẽ cảm thấy thích thú khi học theo phương pháp này. Quý vị chưa biết gì về ngôn ngữ Pāli cũng có thể hiểu được ngoại trừ một số giải thích văn phạm thuộc phần cao cấp; các phần ấy quý vị chỉ nên đọc lướt qua để có khái niệm, sau này sẽ có lợi ích. Tóm lại, phương pháp này có lợi ích đối với mọi trình độ.
Chúng tôi hoan hỷ đón nhận mọi sự góp ý, những điểm thắc mắc của quý vị ngỏ hầu hoàn thiện bản thảo này. Xin quý vị gởi email về: dinda@u.washington.edu  .
Mong rằng tài liệu này sẽ đóng góp phần lợi ích.
Tỳ kheo Inda Canda
(Trương đình Dũng)
Hoàn tất phần đầu vào ngày 20/01/2003
tại Chùa Sri jayawardhanaramaya
Colombo 08 - Sri Lank


[ 01]
BÀI HỌC CĂN BẢN(Chỉ trình bày một cách khái quát)
Các loại từ của ngôn ngữ Pāli gồm có hai loại:
1. Loại biến thể: danh từ, đại từ, tính từ, động từ, v.v... Các tiếp vĩ ngữ thường được thêm vào cuối từ căn bản để xác định ý nghĩa và vai trò của từ ấy trong câu văn.
2. Loại bất biến: trạng từ, giới từ, liên từ, v.v... không thay đổi, giữ nguyên cấu trúc được tìm thấy trong tự điển.
DANH TỪ
Là loại từ biến thể, gồm có:
- ba (3) tánh: nam tánh, nữ tánh, trung tánh;
- tám (8) cách biến thể; và
- hai (2) số: số nhiều và số ít.
Ví dụ: Danh từ trung tánh "puñña" được biến thể ở cách thứ nhất (và cách thứ hai) số ít là puññaṃ, và cách thứ nhất số nhiều là puññāni v.v...
Tám cách biến thể:
1. Cách thứ nhất (chủ từ cách): dùng làm chủ từ ở trong câu, chi phối động từ.
2. Cách thứ hai (trực tiếp cách): thường được làm túc từ trực tiếp của động từ trong câu.
Ví dụ: Buddho dhamma deseti = Đức Phật thuyết pháp.
Buddho: danh từ, nam tánh, cách thứ nhất của "buddha," số ít = Đức Phật.
Dhammaṃ: danh từ, nam tánh, cách thứ hai của "dhamma," số ít = Giáo pháp.
Buddha và dhamma là từ nguyên sẽ gặp lúc tra tự điển. Để ý sự khác biệt về tiếp vĩ ngữ "o" thay thế cho "a" ở cách thứ nhất số ít và "" được thêm vào ở cách thứ hai số ít.
Buddha saraṇa gacchāmi = Tôi quy y Phật.
Buddhaṃ: danh từ, nam tánh, cách thứ hai của "buddha," số ít = đức Phật. Buddha làm túc từ trực tiếp cho động từ "gacchati."
3. Cách thứ ba (sử dụng cách): giải thích công cụ, động cơ, lý do, v.v... của động từ, thường được dịch là: do, bởi, với, bằng, v.v...thường có mặt của hai từ saha và saddhiṃ.
Ví dụ: Buddho nimantito bhikkhusaṅghena saha = Đức Phật được thỉnh cùng với Tăng chúng tỳ khưu. Chú ý "ena" là tiếp vĩ ngữ của cách thứ ba số ít.
4. Cách thứ tư (gián tiếp cách): thường được làm túc từ gián tiếp của động từ trong câu.
Ví dụ: Upāsako Ānandassa āyasmato cīvaraṃ deti = Vị cư sĩ dâng y cà sa đến ngài A-nan-đa.
5. Cách thứ năm (xuất xứ cách): thường dùng để mô tả nơi xuất phát của hành động, nguyên do của vấn đề, v.v...
Ví dụ: Yuvatī vāṇijamhā maṇiṃ kiṇāti = Cô gái mua ngọc từ người thương buôn.
6. Cách thứ sáu (sở hữu cách): mô tả sự phụ thuộc vào người, vật khác, v.v...
Ví dụ: Puttānaṃ assā nagaraṃ āgacchiṃsu = Những con ngựa của các cậu con trai đã đi đến thành phố.
7. Cách thứ bảy (vị trí cách): mô tả về nơi chốn, địa điểm, v.v...
Ví dụ: Ekaṃ samayaṃ Buddho Bhagavā Sāvatthiyaṃ viharati JetavaneAnāthapiṇḍikassa ārāme = Một thời, đức Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, khu rừng Jeta, trong vườn của Anāthapiṇḍika. Ví dụ này gồm có các cách thứ nhất, cách thứ hai, cách thứ sáu, và cách thứ bảy.
8. Cách thứ tám (xưng hô cách): để kêu gọi tạo sự chú ý trong lúc nói chuyện.
Ví dụ: Dve’me bhikkhave antā pabbajitena na sevitabbā = Này các tỷ kheo, có hai thái cực không nên thực hành bởi vị xuất gia.
So sánh sự biến cách của danh từ nam tánh và trung tánh tận cùng bằng a:
Danh từ nam tánh: putta = người con trai

Số ítSố nhiều
Cách thứ nhất:puttoputtā
Cách thứ hai:puttaṃputte
Cách thứ ba:puttenaputtebhi, puttehi
Cách thứ tư:puttāya, puttassaputtānaṃ
Cách thứ năm:puttā, puttasmā, puttamhāputtebhi, puttehi
Cách thứ sáu:puttassaputtānaṃ
Cách thứ bảy:putte, puttamhi, puttasmiṃputtesu
Cách thứ tám:putta, puttāputtā
Danh từ trung tánh: phala = trái cây, kết qủa

Số ítSố nhiều
Cách thứ nhất:phalaṃphalā, phalāni
Cách thứ hai:phalaṃphale, phalāni
Cách thứ ba:phalenaphalebhi, phalehi
Cách thứ tư:phalāya, phalassaphalānaṃ
Cách thứ năm:phalā, phalasmā, phalamhāputtebhi, puttehi
Cách thứ sáu:phalassaphalānaṃ
Cách thứ bảy:phale, phalamhi, phalasmiṃphalesu
Cách thứ tám:phala, phalāphalāni
Ngoài ra còn có danh từ thuộc nam, nữ, và trung tánh tận cùng bằng nguyên âm: a, ā, i, ī, u, ū và phụ âm như: n, nt, v.v... có cách biến thể khác nhau. Nên xem qua các dạng biến thể của chúng và có sẵn tài liệu để tham khảo lúc cần thiết. Chúng tôi chỉ giới thiệu sơ lược để quý vị có một khái niệm tổng quát và không có ý định đi sâu vào chi tiết như các sách văn phạm thường trình bày.ĐỘNG TỪ
Động từ trong ngôn ngữ Pāli được sắp xếp vào 7 nhóm tuỳ theo cấu trúc của chúng và được biến thể tuỳ theo hai (2) loại: tự động và tha động; ba (3) thời: quá khứ, hiện tại, vị lai; hai (2) thể: thụ động và chủ động; ba (3) ngôi: thứ nhất, thứ nhì, thứ ba; hai (2) số: số ít và số nhiều.
Ví dụ: Động từ nhóm thứ nhất, loại tự động: Pacati = pac + a + ti : nấu
Thời hin ti:
Số ítSố nhiều 
Ngôi thứ ba:(So) pacati = hắn ta nấu(Te) pacanti= Chúng nó nấu
Ngôi thứ hai:(Tvaṃ) pacasi = anh nấu(Tumhe) pacatha= Các anh nấu
Ngôi thứ nhất:(Ahaṃ) pacāmi = tôi nấu(Mayaṃ) pacāma= Chúng tôi nấu
Các đại từ như so, te, tvaṃ, v.v... thường được hiểu ngầm vì các cách biến thể đã giúp cho người đọc nhận biết được động từ được chia ở ngôi, số, thời nào, v.v...
Quý vị sẽ học hiểu thêm về văn phạm khi nghiên cứu chi tiết của các bài kinh.

--
[ 02 ]
BÀI TỤNG CĂN BẢN
RATANATTAYAPŪJĀ = LỄ DÂNG CÚNG TAM BẢO
ratanattayapūjā ratanattaya + pūjā: nhóm từ (loại tappurisa, biến đổi tùy thuận theo từ cuối "pūjā "), nữ tánh, nguyên thể.
ratanattaya = ratana-t-taya: nhóm từ (loại kammadhāraya), "t" là từ thêm vào để sự phát âm được dễ dàng = ba ngôi báu, Tam Bảo.
ratana: danh từ, trung tánh = ngọc quý, vật giá trị.
taya: số đếm, biến thể của "ti "= 3, số ba.
pūjā: danh từ, nữ tánh = sự cúng dường, sự tôn kính.
Nghĩa: Sự cúng dường đến ba ngôi Tam Bảo.
Imehi dīpadhūpādisakkārehi buddhaṃ dhammaṃ saṅghaṃ abhipūjayāmi mātāpitādīnaṃ guṇavantānañca mayhañca dīgharattaṃ atthāya hitāya sukhāya.
Imehi: đại từ (được sử dụng như tính từ bổ nghĩa cho "dīpadhūpādisakkārehi" ), nam tánh, cách thứ 3 của "ima", số nhiều = những vật này (ở trong tầm tay).
dīpadhūpādisakkārehi = dīpa + dhūpa + ādi + sakkārehi: nhóm từ (loại dvanda, biến đổi tuỳ thuận theo từ cuối "sakkāra"), nam tánh, cách thứ ba, số nhiều = với những vật trang trọng như là đèn, nhang, v.v...
dīpa: danh từ, nam tánh = đèn, đuốc, vật thắp sáng, ánh sáng.
dhūpa: danh từ, nam tánh = nhang thắp bàn thờ.
ādi: tính từ, bổ nghĩa cho "sakkāra" = bắt đầu với, như là: ... v.v...
sakkāra: danh từ, nam tánh = vật trang trọng, quý giá.
buddhaṃ: danh từ, nam tánh, cách thứ hai của "buddha", số ít = đức Phật.
dhammaṃ: danh từ, nam tánh, cách thứ hai của "dhamma", số ít = Giáo pháp.
saṅghaṃ: danh từ, nam tánh, cách thứ hai của "saṅgha", số ít = Tăng chúng.
abhipūjayāmi: động từ "abhipūjayati=abhi + pūj + aya + ti", nhóm 7 (curādigaṇa), tha động cách (attanopada), thì hiện tại, ngôi thứ nhất, số ít = tôi thành kính cúng dường.
mātāpitādīnaṃ: nhóm từ (loại dvanda, biến đổi tuỳ thuận theo từ cuối "ādi," bổ nghĩa cho "guṇavantānaṃ"), nam tánh, cách thứ sáu, số nhiều = của các bậc như là cha, mẹ, v.v…
mātāpitaro: danh từ, nam tánh, số nhiều, lúc kết hợp với từ khác trở thành "mātāpitu " ( + ādi = mātāpitādi ), "u " biến mất theo quy luật kết hợp hai nguyên âm (sara sandhi ) = cha mẹ.
mātu: danh từ, nữ tánh = mẹ
pitu: danh từ, nam tánh = cha
ādi: đã giải thích ở trên.
guṇavantānañca = guṇavantānaṃ + ca. Trường hợp này gọi là Phép kết hợp âm thanh (Sandhi, loại niggahita - ṃ).
guṇavantānaṃ: danh từ, nam tánh, cách thứ sáu của "guṇavantu", số nhiều = của các bậc có đức hạnh.
ca: giới từ, không đổi = và.
mayhañca: mayhaṃ + ca (Sandhi, loại niggahita - ṃ).
mayhaṃ: đại từ nhân xưng, cách thứ sáu của "amha", số ít = của tôi.
dīgharattaṃ = dīgha + rattaṃ: nhóm từ (loại abyayībhāva được dùng làm trạng từ), cách thứ hai, số ít = một cách lâu dài.
atthāya: danh từ, nam tánh, cách thứ tư của "attha", số ít = nhằm sự tiến bộ. hitāya:danh từ, trung tánh, cách thứ tư của "hita", số ít = nhằm sự lợi ích.
sukhāya: danh từ, trung tánh, cách thứ tư của "sukha", số ít = nhằm sự an vui.
Nghĩa: Tôi thành kính cúng dường Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo với những vật trang trọng như là đèn, nhang, v.v... nhằm sự tiến bộ, sự lợi ích, sự an vui một cách lâu dài của tôi và các bậc có đức hạnh như là cha, mẹ, v.v...
 -ooOoo-
BUDDHARATANAPAṆĀMA = LỄ BÁI PHẬT BẢO
Buddharatanapaṇāma = Buddharatana + paṇāma: nhóm từ (loại tappurisa, biến đổi tuỳ thuận theo từ cuối "paṇāma."
Buddharatana = Buddha + ratana:: nhóm từ (loại kammadhāraya).
paṇāma: danh từ, trung tánh, nguyên thể = sự cúi chào, sự khom mình làm lễ, đảnh lễ.
Nghĩa: Sự khom mình làm lễ Phật bảo.
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa
Namo: tán thán từ, không đổi = cung kính.
tassa: đại từ nhân xưng, cách thứ tư của "ta", số ít = đến vị ấy.
bhagavato: danh từ, nam tánh, cách thứ tư của "bhagavantu", số ít = đến đức Thế Tôn.
arahato: danh từ, nam tánh, cách thứ tư của "arahan", số ít = đến bậc A la hán.
sammāsambuddhassa = sammā + sambuddhassa: nhóm từ (loại kammadhāraya, biến đổi tuỳ thuận theo từ cuối "sambuddha"), nam tánh, cách thứ tư, số ít = đến dấng Chánh Biến Tri.
sammā: trạng từ, không đổi = một cách hoàn toàn, một cách chân chánh.
sam: tiếp đầu ngữ = tự bản thân, cùng với, hoàn toàn.
buddhassa: danh từ, nam tánh, cách thứ tư của "buddha", số ít = bậc đã giác ngộ, Phật bảo.
Nghĩa:
Cung kính đến Ngài là đức Thế Tôn, bậc A la hán, đấng Chánh Biến Tri!
Cung kính đến Ngài là đức Thế Tôn, bậc A la hán, đấng Chánh Biến Tri
Cung kính đến Ngài là đức Thế Tôn, bậc A la hán, đấng Chánh Biến Tri
Yo sannisinno varabodhimūle māraṃ sasenaṃ mahatiṃ vijeyyo
sambodhimāgacchi anantañāṇo lokuttamo taṃ paṇamāmi buddhaṃ.
Yo: đại từ tương ứng (với từ "taṃ"ở hàng thứ nhì), nam tánh, cách thứ nhất của "ya," số ít = vị nào, người nào.
sannisinno: quá khứ phân từ thể thụ động (của động từ sannisīdati = saṃ + ni + sad + a + ti), được dùng như thể chủ động bổ nghĩa cho "yo," nam tánh, cách thứ nhất, số ít = đã ngồi.
varabodhimūle = vara + bodhi + mūle: nhóm từ (loại kammadhāraya – vara + bodhimūle và tappurisa – bodhi + mūle, biến đổi tuỳ thuận theo từ cuối "mūle"), trung tánh, cách thứ bảy, số ít = nơi gốc cây (mūle) bồ đề (bodhi) quý báu (vara).
māraṃ: danh từ, nam tánh, cách thứ hai của "māra," số ít = ma vương.
sasenaṃ = sa + senaṃ, nhóm từ (loại bahubbīhi, có nhiệm vụ như tính từ, bổ nghĩa cho "māra"; bởi vì "senā" tuy là nữ tánh vẫn trở thành nam tánh để phù hợp với "māra") nam tánh, cách thứ hai, số ít = cùng với quân binh.
mahatiṃ: tính từ (bổ nghĩa cho "senaṃ"), nữ tánh, cách thứ hai, số ít = lớn lao, vĩ đại.
vijeyyo: phát xuất từ "vijeyya" quá khứ bất biến của động từ "vijināti hoặc vijayati= vi + ji + a + ti," bổ nghĩa cho "yo," nam tánh, cách thứ hai, số ít = sau khi đã chiến thắng, đã khuất phục.
sambodhimāgacchi: sambodhiṃ + āgacchi do phép kết hợp âm thanh (Sandhi, loạiniggahita - ṃ).
sambodhiṃ = saṃ + bodhi: danh từ, nữ tánh, cách thứ hai, số ít = sự giác ngộ hoàn toàn. (Sam: tiếp đầu ngữ = cùng với, hoàn toàn).
āgacchi = ā + gacchi: động từ "āgacchati=ā + gam + a + ti " (nhóm thứ nhất, thì quá khứ, ngôi thứ ba, số ít = đã đi đến, đã đạt đến, đã chứng ngộ.
anantañāṇo = ananta + ñāṇo nhóm từ (có bản chất là loại kammadhāraya nhưng làm nhiệm vụ của loại bahubbīhi, bởi vì "ñāṇo" tuy là trung tánh vẫn trở thành nam tánh, có nhiệm vụ như tính từ bổ nghĩa cho "yo"), nam tánh, cách thứ nhất, số ít = có trí tuệ (ñāṇo) vô biên (ananta).
ñāṇo: danh từ, trung tánh = trí tuệ
ananta = an + anta
an = na: phủ định từ = không, vô.
anta: danh từ, nam & trung tánh = điểm tận cùng, chót.
lokuttamo = loka + uttamo: tính từ (loại tappurisa, bổ nghĩa cho "yo"), nam tánh, cách thứ nhất, số ít = tối thượng (uttamo) trong thế gian (loka).
uttama = ud + tama: tính từ = cao nhất.
ud: tiếp đầu ngữ = phía trên, ở trên.
tama: so sánh bậc nhất.
loka: danh từ, nam tánh = vũ trụ, thế gian, đời, loài người.
taṃ: đại từ chỉ định (tương ứng với từ "yo" ở hàng thứ nhất, được dùng như tính từ bổ nghĩa cho "buddhaṃ"), nam tánh, cách thứ hai, số ít = vị ấy.
paṇamāmi: động từ "paṇamati=pa + nam + a + ti," nhóm thứ nhất, thì hiện tại, ngôi thứ nhất, số ít = tôi xin cúi chào, đảnh lễ.
buddhaṃ: danh từ, nam tánh, cách thứ hai của "buddha," số ít = Phật bảo.
Nghĩa: Vị Phật nào đã ngồi ở gốc cây bồ đề quí báu, sau khi chiến thắng ma vương cùng với đám quân binh lớn lao, đã đạt đến sự giác ngộ hoàn toàn, có trí tuệ vô biên, là bậc tối thượng trong thế gian; tôi xin đảnh lễ vị Phật ấy.
Ye ca buddhā atītā ca ye ca buddhā anāgatā
paccuppannā ca ye buddhā ahaṃ vandāmi sabbadā.
Ye: đại từ tương ứng (với từ "te" được hiểu ngầm), nam tánh, cách thứ nhất của "ya", số nhiều = những vị nào, những người nào.
buddhā: danh từ, nam tánh, cách thứ nhất của "buddha," số nhiều = các vị Phật, những bậc giác ngộ.
atītā: quá khứ phân từ thể thụ động của "ati-eti=ati + i + a + ti," bổ nghĩa cho "buddhā,"cách thứ nhất, nam tánh, số nhiều = thời quá khứ, thời điểm đã qua.
anāgatā: quá khứ phân từ thể thụ động của "an + ā + gacchati (na + ā + gam + a + ti)", bổ nghĩa cho "buddhā," cách thứ nhất, nam tánh, số nhiều = thời vị lai, thời điểm chưa đến.
paccuppannā: quá khứ phân từ thể thụ động của "paṭi + uppajjati =paṭi + ud + pad + a + ti," bổ nghĩa cho "buddhā," cách thứ nhất, nam tánh, số nhiều = thời vị lai, thời điểm chưa đến.
ahaṃ: đại từ nhân xưng, cách thứ nhất của "amha," số ít = tôi, ngôi thứ nhất.
vandāmi: động từ "vandati=vand + a + ti," nhóm thứ nhất, thì hiện tại, ngôi thứ nhất, số ít = tôi xin cúi chào, đảnh lễ (có nghĩa tương tợ như động từ paṇamati).
sabbadā = sabba + dā: trạng từ = vào mọi lúc, luôn luôn, hàng ngày.
Nghĩa: Tôi luôn luôn đảnh lễ các vị Phật thời quá khứ, các vị Phật thời vị lai, và các vị Phật thời hiện tại.
 -ooOoo- 
BUDDHAGUṆA - ÂN ÐỨC PHẬT
Buddhaguṇa = Buddha + guṇa: nhóm từ (loại tappurisa, biến đổi tuỳ thuận theo từ cuối "guṇa"), nam tánh, nguyên thể.
guṇa: danh từ, nam tánh = phẩm chất, đức hạnh.
Nghĩa: Phẩm hạnh thánh thiện của bậc đã giác ngộ.
Itipi so Bhagavā Arahaṃ Sammāsambuddho Vijjācaraṇasampanno Sugato Lokavidū Anuttaro Purisadammasārathi Satthā devamanussānaṃ Buddho Bhagavāti.
Itipi = iti + api (sara sandhi do sự gặp nhau của 2 nguyên âm "i" và "a").
iti: trạng từ, không đổi, dùng để trích dẫn một lời nói = như vầy: "..."
api: liên từ, không đổi = cũng thế, cho dầu, ngay cả, chí đến.
so (cách thứ nhất của "ta"): đại từ nhân xưng được dùng như tính từ bổ nghĩa cho "Bhagavā," nam tánh, cách thứ nhất, số ít = vị ấy, người ấy.
Bhagavā: tính từ, nam tánh, cách thứ nhất của "bhagavantu," số ít = đáng kính trọng, có oai lực, thánh thiện. Trong trường hợp là danh hiệu của đức Phật thì trở thành danh từ = đức Thế-tôn.
Arahaṃ: danh từ, nam tánh, cách thứ nhất của "arahant," số ít = người không còn ô nhiễm, bậc A la hán, bậc Ứng Cúng.
Sammāsambuddho = Sammā + sam + buddho: biến thể tính theo từ cuối "buddho,"danh từ, nam tánh, cách thứ nhất, số ít = vị đã giác ngộ hoàn toàn một cách chơn chánh, đấng Chánh Biến Tri. (Xem lại ở trên phần "Namo tassa ...").
Vijjācaraṇasampanno = Vijjācaraṇa + sampanno: nhóm từ (loại tappurisa, bổ nghĩa cho "so"), nam tánh, cách thứ nhất, số ít = Minh Hạnh Túc.
vijjācaraṇa = Vijjā + caraṇa: nhóm từ (loại dvanda).
vijjā: danh từ, nữ tánh = kiến thức, trí tuệ.
caraṇa: danh từ, trung tánh = đạo đức, tánh hạnh tốt.
sampanno: quá khứ phân từ thể thụ động của động từ "sampajjati = sam + pad + a + ti," được dùng như tính từ bổ nghĩa cho "so," nam tánh, cách thứ nhất, số ít = thành tựu một cách trọn vẹn.
Sugato = Su + gato: tính từ = đã ra đi một cách trọn vẹn, đã Niết-bàn, bậc Thiện Thệ.
su: tiếp đầu ngữ, bất biến = khéo, tốt, đẹp.
gato: quá khứ phân từ thể thụ động của động từ "gacchati = gam + a + ti," được dùng như tính từ bổ nghĩa cho "so," nam tánh, cách thứ nhất, số ít = đã ra đi.
Lokavidū = Loka + vidū: nhóm từ (loại tappurisa, bổ nghĩa cho "so"), nam tánh, cách thứ nhất, số ít = hiểu biết về thế gian, Thế Gian Giải.
loka: danh từ, nam tánh = thế gian, cuộc đời.
vidū: tính từ = khôn ngoan, hiểu biết, thiện nghệ.
Anuttaro = An + uttaro: tính từ, bổ nghĩa cho "so," nam tánh, cách thứ nhất, số ít = không gì hơn được, Vô Thượng Sĩ.
an = na: phủ định từ = không.
uttaro = ud + taro = so sánh cấp hai của "ud," = ở trên, vượt trội.
Purisadammasārathi = Purisa + dammasārathi: nhóm từ (loại tappurisa), biến đổi theo từ cuối "sārathi," nam tánh, cách thứ nhất, số ít = người lái xe có khả năng điều khiển, huấn luyện kẻ khác, Ðiều Ngự Trượng Phu.
purisa: danh từ, nam tánh = người nam, chúng sanh (nói chung).
dammasārathi = damma + sārathi: nhóm từ (loại kammadhāraya)
damma: quá khứ phân từ của tha động từ "dammeti = dam + aya(e) + ti," = đã làm kẻ khác được thuần hoá.
sārathi: danh từ, nam tánh: người điều khiển xe, xa phu.
Satthā: danh từ, nam tánh, cách thứ nhất của "satthu," số ít = vị thầy.
devamanussānaṃ = deva + manussānaṃ: nhóm từ (loại dvanda), biến đổi tuỳ thuận vào từ cuối "manussānaṃ," danh từ, nam tánh, cách thứ sáu, số nhiều = chư thiên và loài người.
deva: danh từ, nam tánh = vị trời, thiên thần.
manussānaṃ: danh từ, nam tánh, cách thứ sáu của "manussa," số nhiều = loài người.
Satthā devamanussānaṃ = vị thầy của chư thiên và loài người, Thiên Nhơn Sư.
Buddho = danh từ, nam tánh, cách thứ nhất của "buddha," số ít = bậc đã giác ngộ, đức Phật.
Bhagavāti = Bhagavā + iti: đã giải thích ở phía trên.
Nghĩa: Thật vậy, bậc đáng kính trọng ấy là: "A la hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn."
 -ooOoo-
BUDDHĀTTAPAṬIÑÑĀ - LỜI BỐ CÁO QUY Y PHẬT BẢO
Buddhāttapaṭiññā = buddha + attapaṭiññā: nhóm từ (loại tappurisa).
buddha: danh từ, nam tánh = Phật bảo, đức Phật, bậc đã giác ngộ.
attapaṭiññā = atta + paṭiññā: nhóm từ (loại tappurisa).
atta: từ chữ "attan"danh từ, nam tánh = cá nhân, bản ngã.
paṭiññā: danh từ, nữ tánh = lời hứa, lời thề, lời khẳng định.
Nghĩa: Lời khẳng định của cá nhân đối với Phật bảo.
Natthi me saraṇaṃ aññaṃ buddho me saranaṃ varaṃ
etena saccavajjena hotu me jayamaṅgalaṃ.
Natthi = na + atthi
na = bất biến từ, có ý nghĩa phủ định = không.
atthi = động từ bất qui tắc "asti," thì hiện tại, ngôi thứ ba, số ít = là, có.
me: đại từ nhân xưng, cách thứ sáu của "amha", số ít = của tôi, thuộc về tôi.
saraṇaṃ: danh từ, trung tánh, cách thứ nhất của "saraṇa", số ít = sự nương tựa, sự quy y.
aññaṃ: tính từ (bổ nghĩa cho "saraṇa"), trung tánh, cách thứ nhất, số ít = cái khác.
buddho: danh từ, nam tánh, cách thứ nhất của "buddha", số ít = vị Phật, bậc giác ngộ.
varaṃ: tính từ (bổ nghĩa cho "saraṇa"), trung tánh, cách thứ nhất, số ít = quý báu.
etena: đại từ chỉ định (được dùng như tính từ, bổ nghĩa cho "saccavajjena") trung tánh, cách thứ ba, số ít = với cái này, bằng việc này.
saccavajjena = sacca + vajjena: nhóm từ (loại tappurisa, biến đổi tuỳ thuận theo từ cuối "vajja"), trung tánh, cách thứ ba, số ít = do việc nói lên sự thật, do lời chân thật.
sacca = danh từ, trung tánh = sự thật.
vajja = danh động từ ("vad" nói), trung tánh = sự nói lên.
hotu = động từ bất qui tắc "hoti," mệnh lệnh cách, ngôi thứ ba, số ít = hãy là, hãy có, mong là, xin được.
jayamaṅgalaṃ = jaya + maṅgalaṃ: nhóm từ (loại dvanda, biến đổi tùy thuận theo từ cuối "maṅgalaṃ"), trung tánh, cách thứ nhất, số ít = sự thắng lợi và sự hạnh phúc.
jaya = danh từ, nam tánh = sự chiến thắng, sự khuất phục, sự chế ngự.
maṅgalaṃ = danh từ, trung tánh = sự may mắn, thuận lợi, hạnh phúc.
Nghĩa: Tôi không nương nhờ một nơi nào khác (= không có nơi nào khác là nơi nương nhờ của tôi), đức Phật là nơi nương nhờ cao quý của tôi. Do lời chân thật này, xin cho tôi được sự thắng lợi và sự hạnh phúc.
  -ooOoo-
BUDDHAKHAMĀPANA= SÁM HỐI PHẬT BẢO
Buddhakhamāpana = buddha + khamāpana: nhóm từ (loại tappurisa," biến đổi tùy thuận theo từ cuối "khamāpana "), trung tánh, nguyên thể.
khamāpana: danh từ, trung tánh = sự xin tha thứ, sự cầu xin bỏ lỗi.
Nghĩa: Sự cầu xin đức Phật tha thứ lỗi lầm.
Uttamaṅgena vandehaṃ pādapaṃsuṃ varuttamaṃ
buddhe yo khalito doso buddho khamatu taṃ mamaṃ.
Uttamaṅgena = Uttama + aṅgena: nhóm từ (loại kammadhāraya, biến đổi tùy thuận theo từ cuối "aṅgena "), trung tánh, số ít = với cái đầu (là bộ phận thân thể (aṅga) ở trên cùng (uttama)).
aṅga: danh từ, trung tánh = một bộ phận của cơ thể, chi phần.
vandehaṃ: vande + ahaṃ: tôi xin đảnh lễ, cúi đầu chào.
vande: động từ nhóm thứ nhất "vandati," thể tự động, thì hiện tại, ngôi thứ nhất, số ít = tôi xin cúi chào, đảnh lễ.
ahaṃ: đại từ nhân xưng, cách thứ nhất của "amha", số ít = tôi.
pādapaṃsuṃ = pāda + paṃsuṃ: nhóm từ (loại tappurisa, biến đổi tuỳ thuận theo từ cuối "paṃsuṃ"), nam tánh, cách thứ hai, số ít = bụi bặm ở hai bàn chân.
pāda: danh từ, nam tánh = bàn chân
paṃsu: danh từ, nam tánh = bụi bặm, đất cát.
varuttamaṃ: vara + uttamaṃ: nhóm tính từ (loại dvanda, bổ nghĩa cho "pādapaṃsuṃ"), nam tánh, số ít = cao quý (vara) và tối thượng (ud + tamaṃ).
buddhe: danh từ, nam tánh, cách thứ hai của "buddha", số nhiều = đến các vị Phật, đến các bậc giác ngộ.
yo: đại từ tương ứng (với từ "taṃ" ở câu kế), cách thứ nhất của "ya", nam tánh, số ít = việc nào, điều gì.
khalito: quá khứ phân từ thể thụ động của động từ "khalati," biến đổi tùy thuận theo từ "doso," nam tánh, cách thứ nhất, số ít = bị làm rơi, làm hỏng, xúc phạm.
doso: danh từ, nam tánh, cách thứ nhất của "dosa," số ít = tội lỗi, điều xấu xa.
buddho: danh từ, nam tánh, cách thứ nhất của "buddha," số ít = vị Phật, bậc giác ngộ.
khamatu: động từ nhóm thứ nhất "khamati," thể sai khiến (với nghĩa cầu xin, ước muốn), ngôi thứ ba, số ít = xin hãy tha thứ, xin bỏ lỗi.
taṃ: đại từ chỉ định (tương ứng với "yo doso"), nam tánh, cách thứ hai, số ít = việc ấy, điều ấy.
mamaṃ: đại từ nhân xưng, cách thứ sáu của "amha", số ít = của tôi, thuộc về tôi.
Nghĩa: Tôi xin đê đầu đảnh lễ bụi bặm cao quý và tối thượng ở hai bàn chân (của đức Phật). Tội lỗi nào của tôi đã xúc phạm đến chư Phật, xin đức Phật hãy tha thứ việc ấy.
 -ooOoo-
DHAMMARATANAPAṆĀMA - LỄ BÁI PHÁP BẢO
Nghĩa: Sự khom mình làm lễ Pháp bảo. (Xem giải thích ở phần Phật bảo).
Atthaṅgikāriyapatho janānaṃ mokkhappavesāya ujū ca maggo
dhammo ayaṃ santikaro paṇīto nīyyāniko taṃ paṇamāmi dhammaṃ.
Atthaṅgikāriyapatho = Atthaṅgika + ariyapatho: nhóm từ (loại kammadhāraya, biến đổi tuỳ thuận theo từ cuối "patho"), nam tánh, cách thứ nhất, số ít = Thánh Đạo tám ngành, đạo lộ của các bậc thánh gồm có tám chi phần.
Atthaṅgika = attha + aṅgika = nhóm từ (loại digu).
attha: tám (số đếm).
aṅgika = aṅga + ika: tính từ = gồm có các chi phần.
ariyapatho = ariya + patho: nhóm từ
Nếu chọn "ariya"là tính từ thì nhóm từ trên thuộc loại kammadhāraya = Thánh Đạo.
Nếu chọn "ariya" là danh từ nam tánh thì nhóm từ trên thuộc loại tappurisa= đạo lộ của các bậc thánh.
patho = danh từ, nam tánh, cách thứ nhất, số ít = con đường.
janānaṃ: danh từ nam tánh, cách thứ sáu, số nhiều = loài người, thế gian.
mokkhappavesāya = mokkha + (p) + pavesāya: nhóm từ (loại tappurisa, biến đổi tùy thuận theo từ cuối "pavesāya"), nam tánh, cách thứ tư, số ít = đưa đến lối vào sự giải thoát.
mokkha: danh từ, nam tánh = sự giải thoát, Niết-bàn.
pavesāya: danh từ nam tánh, cách thứ tư của "pavesa,", số ít = đưa đến lối vào.
ujū: tính từ (bổ nghĩa cho "maggo "), nam tánh, số ít = ngay, thẳng, chơn chánh.
ca: liên từ, không đổi = và.
maggo: danh từ, nam tánh, cách thứ nhất, số ít = con đường.
dhammo: danh từ, nam tánh, cách thứ nhất, số ít = Pháp bảo.
ayaṃ: đại từ (được sử dụng như tính từ bổ nghĩa cho "dhammo"), nam tánh, cách thứ nhất của "ima", số ít = vật này, cái này.
santikaro = santi + karo: nhóm từ (loại tappurisa biến đổi tuỳ thuận theo từ cuối "karo"), nam tánh, cách thứ nhất, số ít = tạo nên sự an tịnh, đưa đến Niết-bàn.
santi: danh từ, nữ tánh = sự an tịnh, sự bình lặng, Niết-bàn.
karo: tính từ, đi sau danh từ khác để tạo nên nhóm từ = tạo ra, đem lại.
paṇīto: tính từ bổ nghĩa cho "dhammo," nam tánh, số ít = thánh thiện, tuyệt vời.
nīyyāniko: tính từ bổ nghĩa cho "dhammo," nam tánh, số ít = có thể đưa ra khỏi.
taṃ: đại từ (được sử dụng như tính từ bổ nghĩa cho "dhammaṃ"), nam tánh, cách thứ hai của "ta ", số ít = vật ấy, cái ấy.
paṇamāmi: động từ "paṇamati=pa + nam + a + ti," nhóm thứ nhất, thì hiện tại, ngôi thứ nhất, số ít = tôi xin cúi chào, đảnh lễ.
dhammaṃ: danh từ, nam tánh, cách thứ hai của "dhamma," số ít = giáo pháp.
Nghĩa: Pháp bảo này tức là Thánh Đạo tám ngành, là con đường chơn chánh, dẫn đến lối vào sự giải thoát cho chúng sanh, đem lại sự an tịnh, là pháp thánh thiện, có khả năng đưa ra khỏi (luân hồi). Tôi xin đảnh lễ giáo pháp ấy.
Ye ca dhammā atītā ca ye ca dhammā anāgatā
paccuppannā ca ye dhammā ahaṃ vandāmi sabbadā.
Nghĩa: Tôi luôn luôn đảnh lễ các giáo-pháp thời quá khứ, các giáo-pháp thời vị lai, và các giáo-pháp thời hiện tại. (Xem giải thích ở phần Phật bảo).
 -ooOoo- 
DHAMMAGUṆA - ÂN ÐỨC PHÁP BẢO
Dhammaguṇa = Dhamma + guṇa: nhóm từ (loại tappurisa, biến đổi tuỳ thuận theo từ cuối "guṇa," nam tánh, nguyên thể
guṇa: danh từ, nam tánh = phẩm chất, đức hạnh.
Nghĩa: Phẩm chất tốt đẹp của giáo pháp.
Svākkhāto bhagavato dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opanayiko paccattaṃ veditabbo viññūhīti.
Svākkhāto = su (trở thành sva) + akkhāto = đã khéo được thuyết giảng.
su: tiếp đầu ngữ = khéo léo, tốt, đẹp.
akkhāto: quá khứ phân từ thể thụ động của động từ "akkhāti=ā + khyā + ti," được dùng như tính từ bổ nghĩa cho "dhammo," nam tánh, cách thứ nhất, số ít = đã được thuyết giảng, đã được tuyên bố.
bhagavato: danh từ, nam tánh, cách thứ sáu của "bhagavantu," số ít = của đức Thế Tôn.
dhammo: danh từ, nam tánh, cách thứ nhất của "dhamma," số ít = giáo pháp.
sandiṭṭhiko = san + diṭṭhiko: tính từ, bổ nghĩa cho "dhammo," nam tánh, cách thứ nhất, số ít = hoàn toàn hiển nhiên, được thấy rõ ràng.
san = sam: tiếp đầu ngữ = hoàn toàn.
diṭṭhiko = diṭṭha + iko: tính từ, nam tánh = rõ ràng, có thể thấy được.
akāliko = a + kāla + iko = tính từ, bổ nghĩa cho "dhammo," nam tánh, cách thứ nhất, số ít = không đợi thời gian, không bị chi phối bởi thời gian.
a: phủ định từ = không.
kāla: danh từ, nam tánh = thời gian.
ehipassiko = ehi + passa + iko: tính từ, bổ nghĩa cho "dhammo," nam tánh, cách thứ nhất, số ít = hãy đến và hãy thấy.
ehi: động từ "eti," mệnh lệnh cách, ngôi thứ hai, số ít = hãy đến.
passa: động từ "passati," mệnh lệnh cách, ngôi thứ hai, số ít = hãy thấy.
ika: tiếp vĩ ngữ, tín hiệu cho biết là tính từ.
opanayiko = opanayiko (phát xuất từ "upa (đến gần) + nayati (dẫn dắt)"): tính từ, bổ nghĩa cho "dhammo," nam tánh, cách thứ nhất, số ít = dẫn dắt về hướng (Niết-bàn).
paccattaṃ: trạng từ, không đổi = tự cá nhân, riêng rẽ.
veditabbo: tương lai phân từ thể thụ động của động từ "vidati = vid + a + ti," bổ nghĩa cho "dhammo," nam tánh, cách thứ nhất, số ít = nên được hiểu biết.
viññūhīti = viññūhi + iti
viññūhi: tính từ, được dùng như danh từ, nam tánh, cách thứ ba, số nhiều = bởi các bậc trí tuệ.
iti: trạng từ, không đổi, dùng để trích dẫn một lời nói = như vầy: "..."
Nghĩa: "Pháp của đức Thế Tôn đã khéo được thuyết giảng, hoàn toàn hiển nhiên, không bị chi phối bởi thời gian, hãy đến và hãy thấy, có khả năng dẫn dắt về hướng (Niết-bàn), và nên được hiểu biết tự cá nhân bởi các bậc trí tuệ."
 -ooOoo- 
DHAMMĀTTAPAṬIÑÑĀ - LỜI BỐ CÁO QUY Y PHÁP BẢO
Nghĩa: Lời khẳng định của cá nhân đối với Pháp bảo. (Xem giải thích ở phần Phật bảo).
Natthi me saraṇaṃ aññaṃ dhammo me saraṅaṃ varaṃ
etena saccavajjena hotu me jayamaṅgalaṃ.
Nghĩa: Tôi không nương nhờ một nơi nào khác (= không có nơi nào khác là sự nương nhờ của tôi), Pháp bảo là nơi nương nhờ cao quý của tôi. Do lời chân thật này, xin cho tôi được sự thắng lợi và sự hạnh phúc. (Xem giải thích ở phần Phật bảo).
 -ooOoo- 
DHAMMAKHAMĀPANA - SÁM HỐI PHÁP BẢO
Nghĩa: Sự cầu xin đức Pháp tha thứ lỗi lầm. (Xem giải thích ở phần Phật bảo).
Uttamaṅgena vandehaṃ dhammañca duvidhaṃ varaṃ
dhamme yo khalito doso dhammo khamatu taṃ mamaṃ.
dhammañca = dhammaṃ + ca: (Sandhi, loại niggahita - ṃ).
duvidhaṃ = du + vidhaṃ: nhóm từ (loại bahubbīhi, biến đổi tuỳ thuận theo từ cuối "vidhaṃ"), nam tánh, cách thứ hai, số ít = có hai loại, có hai thứ.
du: (từ chữ "dve ") = hai (số đếm).
vidhaṃ: danh từ, nam tánh, số ít = loại, thứ.
varaṃ: tính từ bổ nghĩa cho "dhammaṃ" nam tánh, cách thứ hai, số ít = cao quý.
Nghĩa: Tôi xin đê đầu đảnh lễ đức Pháp cao quý và có hai loại (Pháp học và Pháp hành). Tội lỗi nào của tôi đã xúc phạm đến các Pháp, xin đức Pháp hãy tha thứ việc ấy. (Xem giải thích ở phần Phật bảo).
 -ooOoo-
SAṄGHARATANAPAṆĀMA - LỄ BÁI TĂNG BẢO
Nghĩa: Sự khom mình làm lễ Tăng bảo. (Xem giải thích ở phần Phật bảo).
Saṅgho visuddho varadakkhiṇeyyo santindriyo sabbamalappahīno
guṇehinekehi samiddhipatto anāsavo taṃ paṇamāmi saṅghaṃ.
Saṅgho: danh từ, nam tánh, cách thứ nhất của "saṅgha," số ít = Tăng chúng.
visuddho: quá khứ phân từ thể thụ động của "visujjhati = vi + sudh + a + ti," được dùng như tính từ bổ nghĩa cho "saṅgho", nam tánh, cách thứ nhất, số ít = đã được thanh tịnh, đã được làm cho trong sạch.
varadakkhiṇeyyo = vara + dakkhiṇeyyo: nhóm từ (loại dvanda, bổ nghĩa cho "saṅgho"), nam tánh, cách thứ nhất, số ít = cao quý (vara) và đáng được cúng dường (dakkhiṇeyyo).
santindriyo = santa + indriyo: nhóm từ (có bản chất là loại kammadhāraya nhưng làm nhiệm vụ của loại bahubbīhi, có nhiệm vụ như tính từ bổ nghĩa cho "saṅgho," nam tánh, cách thứ nhất, số ít. (Danh từ trung tánh "indriya" được biến đổi như là danh từ nam tánh).
santa: quá khứ phân từ thể thụ động của "sammati = sam + (m) + a + ti," = đã được thanh tịnh, đã được trong sạch.
indriya: danh từ, trung tánh = giác quan, căn,quyền.
sabbamalappahīno = sabba + mala + (p) + pahīno: nhóm từ (loại kammadhāraya – sabba + mala và tappurisa – sabbamala + (p) + pahīno) = đã đoạn trừ tất cả điều ô nhiễm.
pahīno: quá khứ phân từ thể thụ động của "pajahati = pa + hā + ti," được dùng như tính từ bổ nghĩa cho "saṅgho," nam tánh, cách thứ nhất, số ít = đã được dứt bỏ, đã được trừ diệt.
sabba: đại từ (được sử dụng như tính từ bổ nghĩa cho "mala," trung tánh = tất cả, mọi thứ.
mala: danh từ, trung tánh = tội lỗi, điều ô nhiễm.
guṇehinekehi = guṇehi + na + ekehi: nhóm từ (loại kammadhāraya, biến đổi tuỳ thuận theo từ cuối "ekehi "), nam tánh, cách thứ ba, số nhiều = với vô số đức hạnh.
guṇehi: danh từ, nam tánh, cách thứ ba của "guṇa," số nhiều = với nhiều đức hạnh.
na + ekehi: (eka = một) = không phải một, nhiều, vô số.
samiddhipatto = sam + iddhi + patto: nhóm tính từ (loại tappurisa), bổ nghĩa cho "saṅgho," nam tánh, cách thứ ba, số ít = đã được thành đạt nhiều thần thông.
sam: tiếp đầu ngữ, bất biến = với, hoàn toàn.
iddhi: danh từ, nữ tánh = thần thông, quyền lực siêu nhiên.
patto: quá khứ phân từ thể thụ động của "pāpuṇāti = pa + āp + ti," được dùng như tính từ bổ nghĩa cho "saṅgho," nam tánh, cách thứ nhất, số ít = đã được chứng đạt, đã được thành tựu.
anāsavo = an + āsavo: nhóm từ (loại bahubbīhi), có nhiệm vụ như tính từ bổ nghĩa cho "saṅgho"), nam tánh, cách thứ nhất, số ít = không còn lậu hoặc, không còn phiền não.
taṃ: đại từ (được sử dụng như tính từ bổ nghĩa cho "saṅghaṃ"), nam tánh, cách thứ hai của "ta ", số ít = vật ấy, cái ấy.
paṇamāmi: động từ "paṇamati=pa + nam + a + ti," nhóm thứ nhất, thì hiện tại, ngôi thứ nhất, số ít = tôi xin cúi chào, đảnh lễ.
saṅghaṃ: danh từ, nam tánh, cách thứ hai của "saṅgha," số ít = Tăng chúng.
Nghĩa: Tăng chúng đã được trong sạch, đã đoạn trừ tất cả điều ô nhiễm, có các giác quan đã được thanh tịnh, với vô số đức hạnh, đã thành đạt được nhiều thần thông, không còn phiền não, là bậc cao quý và đáng được cúng dường Tôi xin đảnh lễ Tăng chúng ấy.
Ye ca saṅghā atītā ca ye ca saṅghā anāgatā
paccuppannā ca ye saṅghā ahaṃ vandāmi sabbadā.
Nghĩa: Tôi luôn luôn đảnh lễ chư Tăng thời quá khứ, chư Tăng thời vị lai, và chư Tăng thời hiện tại. (Xem giải thích ở phần Phật bảo).
 -ooOoo- 
SAṄGHAGUṆA - ÂN ÐỨC TĂNG BẢO
Saṅghaguṇa = Saṅgha + guṇa: nhóm từ (loại tappurisa, biến đổi tuỳ thuận theo từ cuối "guṇa," nam tánh, nguyên thể (dùng cho tiêu đề), số ít.
guṇa: danh từ, nam tánh = phẩm chất, đức hạnh.
Nghĩa: Phẩm hạnh thánh thiện của Tăng chúng.
Supaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ujupaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho
ñāyapaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho sāmīcipaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho
yadidaṃ cattāri purisayugāṇi atthapurisapuggalā esa bhagavato sāvakasaṅgho
āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaranīyo anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassāti.
Supaṭipanno = su + paṭipanno = đã khéo được huấn luyện
su: tiếp đầu ngữ = khéo léo, tốt, đẹp.
paṭipanno = paṭi + panno: quá khứ phân từ thể thụ động của động từ "paṭipajjati = paṭi + pad + a + ti," được dùng như tính từ bổ nghĩa cho "sāvakasaṅgho," nam tánh, cách thứ nhất, số ít = đã được huấn luyện.
bhagavato: danh từ, nam tánh, cách thứ sáu của "bhagavantu", số ít = của đức Thế Tôn.
sāvakasaṅgho = sāvaka + saṅgho: nhóm từ (loại kammadhāraya, biến đổi tùy thuận theo từ cuối "saṅgho "), nam tánh, số ít = Tăng chúng đệ tử.
sāvaka = su(=sav) + aka = danh từ, nam tánh = người nghe, đệ tử.
saṅgho: danh từ, nam tánh = Tăng chúng.
ujupaṭipanno: uju + paṭipanno = đã được huấn luyện đúng đắn.
ñāyapaṭipanno: ñāya + paṭipanno = đã được huấn luyện có phương pháp.
ñāya: danh từ, nam tánh = phương pháp
sāmīcipaṭipanno = sāmīci + paṭipanno: đã được huấn luyện làm tròn nhiệm vụ.
sāmīci: danh từ, nữ tánh: nhiệm vụ, sự chính xác.
yadidaṃ = yad + idaṃ = điều trên (yad) có nghĩa là thế này (idaṃ).
yad và idaṃ: đại từ chỉ định, trung tánh, số ít.
cattāri: tính từ, bổ nghĩa cho "yugāṇi," trung tánh, số nhiều = bốn (số đếm).
purisayugāṇi = purisa + yugāṇi:: nhóm từ (loại kammadhāraya, biến đổi tùy thuận theo từ cuối "yugāṇi "), trung tánh, cách thứ nhất, số nhiều = (bốn) cặp hạng người.
purisa: danh từ, nam tánh = người nam, người (nói chung).
yugāṇi: danh từ, trung tánh = đôi, cặp, hai cái.
atthapurisapuggalā: attha + purisapuggalā: nhóm từ (loại digu là một thể đặc biệt với số đếm của kammadhāraya, biến đổi tùy thuận theo từ cuối "puggalā "), nam tánh, số nhiều = tám hạng người tính đơn.
attha: tính từ = tám (số đếm).
purisapuggalā = purisa + puggalā: nhóm từ (loại kammadhāraya, biến đổi tùy thuận theo từ cuối "puggalā "), nam tánh, số nhiều = (tám) hạng người tính đơn.
esa = eso: đại từ chỉ định được dùng như tính từ bổ nghĩa cho "sāvakasaṅgho," nam tánh, số ít = nhóm người ấy, nhóm người đã nói ở trên.
bhagavato: danh từ, nam tánh, cách thứ sáu của "bhagavantu", số ít = của đức Thế Tôn.
sāvakasaṅgho = sāvaka + saṅgho: nhóm từ (loại kammadhāraya, biến đổi tùy thuận theo từ cuối "saṅgho "), nam tánh, số ít = Tăng chúng đệ tử.
āhuneyyo = ā + huneyyo: tương lai phân từ thể thụ động của động từ "ā + huti," được dùng như tính từ, bổ nghĩa cho "sāvakasaṅgho," nam tánh, số ít = đáng được cung kính.
pāhuneyyo = pā + huna + eyyo: tương lai phân từ thể thụ động của động từ "pā + huti," được dùng như tính từ, bổ nghĩa cho "sāvakasaṅgho," nam tánh, số ít = đáng được thân cận.
dakkhiṇeyyo = dakkhiṇa + eyyo: tính từ, bổ nghĩa cho "sāvakasaṅgho," nam tánh, số ít = đáng được cúng dường.
añjalikaranīyo = añjali + karanīyo: nhóm từ (loại tappurisa, biến đổi tùy thuận theo từ cuối "karanīyo "), nam tánh, số ít = đáng được chắp tay, đáng được lễ bái.
añjali: danh từ, nam tánh = tư thế chắp tay đưa lên trán tỏ ý cung kính.
karanīyo: tương lai phân từ thể thụ động của động từ "karoti," được dùng như tính từ, bổ nghĩa cho "sāvakasaṅgho," nam tánh, số ít = đáng được làm.
anuttaraṃ: an + ud + taraṃ (đã giải thích ở trên) = tĩnh từ bổ nghĩa cho "puññakkhettaṃ," trung tánh, số ít = không gì hơn được, vô thượng.
puññakkhettaṃ = puñña + (k) + khettaṃ: nhóm từ (loại kammadhāraya, biến đổi tùy thuận theo từ cuối "khettaṃ"), trung tánh, cách thứ nhất, số ít = nơi để gieo nhân phước báu, phước điền.
puñña: danh từ, trung tánh = phước báu, điều thiện.
khettaṃ: danh từ, trung tánh = thửa ruộng.
lokassāti = lokassa + iti
lokassa: danh từ, nam tánh, cách thứ sáu của "loka," số ít = của thế gian.
iti: trạng từ, bất biến, thường dùng để trích dẫn một lời nói = như vầy: "..."
Nghĩa: "Tăng chúng đệ tử của đức Thế Tôn đã khéo được huấn luyện. Tăng chúng đệ tử của đức Thế Tôn đã được huấn luyện đúng đắn. Tăng chúng đệ tử của đức Thế Tôn đã được huấn luyện có phương pháp. Tăng chúng đệ tử của đức Thế Tôn đã được huấn luyện làm tròn nhiệm vụ. Điều trên có nghĩa là thế này: bốn cặp hạng người (bốn đôi Đạo Quả), tám hạng người tính đơn (bốn Đạo và bốn Quả là tám). Tăng chúng đệ tử ấy của đức Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được thân cận, đáng được cúng dường, đáng được lễ bái, là nơi để gieo nhân phước báu của thế gian không gì hơn được."
 -ooOoo- 
SAṄGHĀTTAPATIÑÑĀ - LỜI BỐ CÁO QUY Y TĂNG BẢO
Nghĩa: Lời khẳng định của cá nhân đối với Tăng bảo. (Xem giải thích ở phần Phật bảo).
Natthi me saraṇaṃ aññaṃ saṅgho me saraṇaṃ varaṃ
etena saccavajjena hotu me jayamaṅgalaṃ.
Nghĩa: Tôi không nương nhờ một nơi nào khác (= không có nơi nào khác là sự nương nhờ của tôi), Tăng bảo là nơi nương nhờ cao quý của tôi. Do lời chân thật này, xin cho tôi được sự thắng lợi và sự hạnh phúc. (Xem giải thích ở phần Phật bảo).
 -ooOoo- 
SAṄGHAKHAMĀPANA - SÁM HỐI TĂNG BẢO
Nghĩa: Sự cầu xin đức Tăng tha thứ lỗi lầm. (Xem giải thích ở phần Phật bảo).
Uttamaṅgena vandehaṃ saṅghañca duvidhottamaṃ
saṅghe yo khalito doso saṅgho khamatu taṃ mamaṃ.
saṅghañca = saṅghaṃ + ca (Sandhi, loại niggahita - ṃ).
duvidhottamaṃ = duvidha + uttamaṃ: nhóm tính từ (loại tappurisa), bổ nghĩa cho "saṅghaṃ", nam tánh, cách thứ hai, số ít = hai hạng tối thượng.
du: (từ chữ "dve " = tính từ) = hai (số đếm).
vidha: danh từ, nam tánh = loại, thứ.
uttamaṃ = ud + tamaṃ: tĩnh từ so sánh hạng nhất = , trên hết, tối thượng.
Nghĩa: Tôi xin đê đầu đảnh lễ đức Tăng tối thượng gồm có hai hạng (Phàm Tăng và Thánh Tăng). Tội lỗi nào của tôi đã xúc phạm đến chư Tăng, xin đức Tăng hãy tha thứ việc ấy. (Xem giải thích ở phần Phật bảo).
 -ooOoo- 
LỄ BÁI XÁ LỢI
Vandāmi cetiyaṃ sabbaṃ sabbaṭṭhāne supatiṭṭhitaṃ
sārīrikadhātu mahābodhiṃ buddharūpaṃ sakalaṃ sadā.
vandāmi: động từ "vandati, " nhóm thứ nhất, thì hiện tại, ngôi thứ nhất, số ít = tôi xin cúi chào, đảnh lễ (có nghĩa tương tợ như động từ paṇamati).
cetiyaṃ: danh từ, trung tánh, cách thứ hai của "cetiyaṃ," số ít = tháp thờ, bảo tháp.
sabbaṃ: đại từ (được sử dụng như tính từ bổ nghĩa cho "cetiyaṃ"), trung tánh, cách thứ hai của "sabba," số ít = tất cả, mọi thứ.
sabbaṭṭhāne = sabba + (ṭ) + ṭhāne: nhóm từ (loại kammadhāraya biến đổi tuỳ thuận theo từ cuối "ṭhāne," trung tánh, cách thứ hai, số nhiều = ở tất cả các địa điểm.
ṭhāne: danh từ, trung tánh, cách thứ hai của "ṭhāna," số nhiều = địa điểm, chổ, xứ.
supatiṭṭhitaṃ = su + pati + (ṭ) + ṭhitaṃ
su: tiếp đầu ngữ = tốt, đẹp, khéo léo.
pati + (ṭ) + ṭhitaṃ: quá khứ phân từ thể thụ động của "supatiṭṭhāti = pa + sthā + ti," được dùng như tính từ bổ nghĩa cho "cetiyaṃ," trung tánh, cách thứ nhất, số ít = đã được xây dựng, đã được lập nên.
sārīrikadhātu = sārīrika + dhātu: nhóm từ (loại kammadhāraya biến đổi tuỳ thuận theo từ cuối "dhātu") nam & nữ tánh, cách thứ hai, số ít = xá lợi.
sārīrika: tính từ, bổ nghĩa cho "dhātu" = thuộc về cơ thể (sarīra).
dhātu: danh từ, nam & nữ tánh = phần tinh chất, phần tử.
mahābodhiṃ = mahā + bodhiṃ: nhóm từ (loại kammadhāraya biến đổi tuỳ thuận theo từ cuối "bodhiṃ,") nam & nữ tánh, cách thứ hai, số ít = cây Bồ-đề cổ thụ.
mahā: tính từ (nguyên thể là "mahanta"), bổ nghĩa cho "bodhi."
buddharūpaṃ = buddha + rūpaṃ: nhóm từ (loại tappurisa biến đổi tuỳ thuận theo từ cuối "rūpaṃ," trung tánh, cách thứ hai, số ít = hình tượng của đức Phật.
sakalaṃ: tính từ, bổ nghĩa cho ba nhóm từ biến đổi theo cách thứ hai là: "sārīrikadhātu, mahābodhiṃ, buddharūpaṃ" = toàn bộ, toàn thể, tất cả.
sadā: trạng từ, không thay đổi = luôn luôn.
Nghĩa: Tôi luôn luôn đảnh lễ tất cả các bảo tháp, toàn bộ xá lợi, cây Bồ-đề cổ thụ, và hình tượng của đức Phật đã được xây dựng ở khắp các địa điểm.

--
http://www.budsas.110mb.com/uni/u-palikinh/hocpali-02.htm




Thứ Tư, 5 tháng 12, 2012

was wirklich ist, das ist vernünftig/ hegel

Ein zentraler Satz Hegels "Was vernünftig ist, das ist wirklich; und was wirklich ist, das ist vernünftig."

"was vernünftig ist, wird wirklich und was wirklich ist, wird vernünftig" oder "Was vernünftig ist muss sein".

hegel

Thứ Hai, 3 tháng 12, 2012

MAHASI



Chương V




Thiền sư Mahasi Sayadaw

Thiền sư Mahasi Sayadaw đã có một thành quả lớn trong sự truyền bá thiền quán ở những nước Phật giáo nguyên thủy. Ngài đi học vào lúc sáu tuổi ở một thiền viện vùng quê và đã kết thúc việc học một vài năm sau khi xuất gia tỳ khưu với văn bằng danh dự cao nhất do chánh phủ đỡ đầu kỳ thi Pàli và phổ thông. Sau nhiều năm dạy kinh điển, ngài lên đường với y, bát tìm kiếm một phương pháp hành thiền có kết quả và trong sáng hơn. Trên đường đến Thaton, ngài gặp thiền sư U Narada, Mungun Sayadaw và bắt đầu theo học, thiền sư dạy ngài tu tập thiền quán tích cực. Sau khi hành thiền tích cực và liên tục nghiên cứu, ngài Mahasi trở về làng quê của ngài để bắt đầu dạy một phương pháp hành thiền có hệ thống.
Không bao lâu, sau khi Miến Ðiện giành lại độc lập của mình từ nước Anh. Thủ tướng mới U Nu thỉnh cầu thiền sư Mahasi Sayadaw đến thủ đô Rangoon để dạy thiền ở một trung tâm lớn, mà ông ta đã xây dựng lên. Từ thời điểm đó có hơn một trăm trung tâm thiền đã và đang mở cửa do đệ tử của ngài ở Miến Ðiện, và phương pháp của ngài đã truyền bá rộng rãi ở Thái Lan và Tích Lan.
Một danh dự đặc biệt mà tứ chúng dành cho thiền sư Mahasi ở đại hội Phật giáo thế giới năm 1956, kể từ khi đức Phật viên tịch đây là sự kiện nổi bật. Ngài đóng một vai trò người đặt câu hỏi chủ chốt trong đại hội, vai trò chính trong việc làm sáng tỏ duy trì lời dạy của đức Phật cho thế hệ mai sau.
Trung tâm Mahasi, Thathana Yeiktha ở Rangoon có nhiều phòng lớn và phòng nhỏ dành cho hành giả luyện tập thiền định. Trung tâm này thường có hàng trăm hành giả đến thực hành thiền quán tích cực. Quý khách có thể thấy có nhiều hành giả đang tu tập thiền hành; và nhiều phòng khác người ta đang thiền tọa hay có nhóm khác đang trình pháp với thiền sư. Ðiều đó rất quen thuộc đối với những người Miến Ðiện sùng đạo đến đây để trải qua kỳ nghỉ hè của mình, là đi đến những trung tâm thiền, tham gia những khóa thiền tích cực.
Ở hệ thống thiền Mahasi, thực hành liên tục, hành xen kẻ giữa thiền hành và thiền tọa là mười sáu tiếng đồng hồ trong một ngày.Ở phương pháp tu tập tích cực này, định và chánh niệm phát huy một cách nhanh chóng ngay cho những người thiếu kinh nghiệm. Bên cạnh đó thực hành liên tục thiền tích cực, phương pháp của ngài Mahasi đi đến chánh niệm là được phát huy một cách nghiêm ngặt giống như thực hành thiền quán từ lúc đầu. Ðặc biệt là không có phát huy một sự tập trung trên bất cứ đề mục nào. Thay vào đó ngay lúc bắt đầu, người ta chú niệm để biết được thân tâm thay đổi từng sát-na. Ðiều này được thuận lợi do bởi kĩ thuật theo dõi thân tâm của mỗi người khi nó đạt được nhận thức. Những ghi nhận về tinh thần này giúp đỡ trực tiếp làm quân bình tiến trình tâm đi đến thiền định. Ðiều này giúp cho hành giả tránh khỏi sự bám víu vào bất cứ đề mục nào mà mình thỏa thích. Ngài Mahasi nhấn mạnh rằng sự nhận thức cần phải tập trung trực tiếp vào mỗi sát-na và sự ghi nhận về tinh thần đó thuần tuý chỉ là một sự hỗ trợ bên ngoài để nhìn thấy sự việc rõ ràng hơn. Ðể làm nổi bật điều này ở những giai đoạn khác, chín mươi lăm phần trăm nỗ lực của một người sẽ cảm nhận trực tiếp được tiến trình và năm phần trăm tạo ra những cảm nhận về tinh thần như được mô tả.
Mặc dù ngài Mahasi Sayadaw giới thiệu về phương pháp phồng xẹp ở bụng là đề mục thiền định chính, các vị đệ tử của ngài cũng được phép dùng phương pháp số tức quan tập trung ở chót mũi như là một phương pháp thay đổi để tu tập. Trong hệ thống này không đặt nặng một đề mục cơ bản nào để quan sát mà là phẩm chất được trong sạch, xa lìa nhận thức được dùng để quán chiếu bản chất tự nhiên của nó.

Khi cuộc tọa đàm tiếp tục, ngài Mahasi đã giải thích cặn kẻ sự việc với một phương pháp rõ ràng và không có kỳ bí về những gì mà người ta có thể cảm nhận được với sự sâu sắc của nhận thức và sức mạnh của sự cảm nhận. Ðây là sự phát triển của những giai đoạn mọ u mực của tiến trình thiền quán như đã được mô tả trong kinh sách Phật giáo truyền thống. Nên nhớ rằng, không phải tất cả các hành giả sẽ có cảm nhận giống nhau, dù rằng họ theo phương pháp của ngài Mahasi.

Mặc dù đôi khi thiền quán sẽ phát huy giống như sự mô tả của ngài Mahasi, thông thường những hành giả thường có những cảm nhận khác nhau. Bất cứ điều gì mà người ta cho là tuyệt đối thì hết sức nguy hiểm đối với việc phát huy bất cứ sự mong muốn nào trong sự tu tập. Người đó chỉ đơn thuần phát huy sự nhận thức rõ ràng và sâu sắc những thực tế được cảm nhận qua từng sát-na. Rồi thì sự tu tập sẽ sâu sắc hơn, tuệ giác và trí tuệ sẽ phát huy một cách sâu sắc và tự nhiên.

Vào cuối thập niên năm mươi và đầu sáu mươi nhiều người phương Tây đã học thiền minh sát ở trung tâm, và một số những người này đã được đào tạo thành những vị thiền sư. Mặc dù ngài Mahasi và một số vị đệ tử của ngài nói tiếng Anh, nhưng những người tây phương chỉ được đến Miến Ðiện tu tập thiền giới hạn là hai tuần. Tuy nhiên chùa Kandaboda ở Tích Lan; Thượng tọa Anagarika Munindra ở Bodh Gaya Aán Ðộ; và ọ haan Asakha ở Wat Wiwake Asrom Thái Lan đến dạy phương pháp của ngài Mahasi.

Ngoài ra một số tác phẩm quan trọng bằng tiếng Miến của ngài Mahasi được xuất bản bằng tiếng Anh, gồm có Progress of insight và Prọ tical insight meditation, có những sự hướng dọ n rộng hơn những tư liệu được trình bày trong chương này.

Thiền Minh Sát

Các giai đoạn cơ bản và tiến triển
Thiền sư Mahasi Sayadaw
Thật sự phải nói rằng không một ai muốn đau khổ và mọi người đều tìm kiếm hạnh phúc. Trong thế giới của chúng ta, con người đang làm hết nỗ lực để có thể ngăn chặn và giảm bớt khổ đau và thụ hưởng hạnh phúc. Tuy vậy, những nỗ lực của họ phần đông là hướng đến hạnh phúc về thân xác và những phương tiện vật chất. Cuối cùng hạnh phúc đều phải lệ thuộc vào trạng thái tâm, và tuy thế chỉ có một ít người chuyên tâm những ý tưởng thật này qua sự phát huy tinh thần, mà một số ít hơn vọ n chuyên cần tu tập tâm.
Ðể minh họa điều này, sự chú ý có thể được khởi đầu từ những thói quen tầm thường của việc trao chuốt thân thể của mình; chấm dứt tiệc tùng ăn uống, quần áo, chỗ ở, và những sự tiến bộ to lớn của kĩ thuật nhằm nâng cao đời sống vật chất, và tăng cường các phương tiện giao thông vận chuyển và đề phòng, chữa trị bệnh tật ốm đau. Tất cả những nỗ lực này đều có mục đích đi đến việc bảo vệ và quan tâm đến việc nuôi dưỡng cơ thể. Chúng ta cần nhận thức rằng chúng ta là những điều cơ bản. Tuy vậy những nỗ lực này của con người và những thành quả không thể có khả năng làm giảm bớt hoặc loại trừ đau khổ được đi kèm với tuổi già và bệnh tật, những bất hạnh trong nội bộ và những sự khủng hoảng kinh tế. Nói tóm lại với những nhu cầu không thoả mãn và những khát khao. Sự đau khổ tự nhiên này, thì không khắc phục được bằng những phương tiện vật chất, mà chỉ có sự huấn luyện tâm và phát huy tinh thần mới có thể vượt qua chúng.
Do đó, rõ ràng là phải tìm kiếm một con đường đúng đắn trong việc huấn luyện làm vững chắc và trong sạch tâm. Ðường đi này được tìm thấy trong kinh Ðại niệm xứ, một bài pháp nổi tiếng của đức Phật, đã được ngài trình bày rốt ráo cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ. Ðức Phật đã tuyên bố như thế này:

-Ðây là con đường duy nhất để thanh lọc tâm, để vượt qua khổ đau và phiền muộn, để đoạn trừ đau đớn và ưu sầu, để đạt đến con đường thánh đạo, để nhận thấy được Níp-bàn, đây là Tứ Niệm Xứ.
Phương pháp tu tập cơ bản

Giai đoạn căn bản
Nếu quý vị thành tâm muốn tu tập thiền quán để đạt đến tuệ giác trong đời sống hiện tại này, thì quý vị phải từ bỏ những suy nghĩ và hành động tầm thường suốt thời gian luyện tập. Giai đoạn đầu là giới thanh tịnh, bước căn bản cần thiết cho việc phát huy thiền quán thích hợp. Quý vị cũng phải gìn giữ những giới luật đã bắt buộc cho cư sĩ (là tỳ khưu phải giữ giới của tỳ khưu), bởi vì giới rất quan trọng trong việc đạt đến thiền quán. Theo giới luật, những giới này bao gồm tám giới mà người phật tử gìn giữ trong những ngày lễ và trong suốt thời gian hành thiền. Những giới tự nguyện này là kiêng cử (1) sát sinh, (2) trộm cắp, (3) hành dâm, (4) nói dối, (5) uống rượu, (6) ăn phi thời, (7) múa hát, trưng bày trang điểm, xức dầu thơm, (8) nằm giường cao và sang trọng. Một giới luật thêm nữa là không được nói xúc phạm, chế nhạo hay ác tâm đến một vị cao thượng mà đã đạt đến trạng thái giác ngộ.
Những vị thiền sư ngày xưa của Phật giáo nguyên thủy cho rằng, quý vị đặt niềm tin vào một đấng giác ngộ, đức Phật suốt trong thời gian tu tập, nhờ vậy quý vị có thể tỉnh giác nếu tâm quý vị phát sinh những điều bất thiện hoặc những hình ảnh ghê sợ. Quý vị cũng phải chịu sự hướng dọ n của những vị thiền sư, vì rằng vị ấy có thể nói thẳng thắng về công việc tu tập của quý vị trong lúc hành thiền và cho quý vị những lời khuyên mà ngài cảm thấy cần thiết.
Mục đích của việc tu tập này và lợi ích to tát nhất của nó là từ bỏ được tham, sân, si đó là nguồn goọ của tất cả sự xấu xa và đau khổ. Tiến trình tu tập thiền quán tích cực này có thể đưa quý vị đến sự từ bỏ những điều trên. Như vậy việc tu tập tích cực với quan điểm từ bỏ tham, sân, si để việc tu tập của quý vị đạt được thành quả tốt đẹp. Hình thức tu tập này trong thiền quán dựa trên nền tảng của Tứ niệm xứ, đã được chư Phật và các bậc thánh đã thực hiện, để đạt tới giác ngộ. Quý vị được tán thán có được cơ hội thực hành cùng một cách tu tập như trên. Ðiều quan trọng đối với quý vị cho việc bắt đầu tu tập của mình bằng sự quán niệm ngắn gọn về bốn điều phòng hộ mà đức Phật đã dạy cho quý vị về sự quán chiếu. Ðiều này rất ích lợi cho tâm lý của quý vị trong giai đoạn này để quán chiếu về chúng. Những chủ đề cho bốn sự phòng hộ (quán chiếu), chính là đức Phật, từ bi, sự nhàm chán về xác thân và cái chết.
Ðầu tiên, đặt niềm tin nơi đức Phật và tán thán ngài với mười hồng danh như sau: �ng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật, Thế tôn.
Thứ hai: hãy rải lòng từ đến tất cả chúng sinh mà không có phân biệt:
-- Xin cho tôi tránh được mọi oan trái, bệnh tật và đau đớn... và tôi cũng cầu nguyện cho cha mẹ tôi, những người nuôi dưỡng tôi, thầy tôi, bạn hữu, những người không quen biết, và tất cả chúng sinh khác tránh được oan trái, bệnh tật và đau đớn. Cầu cho tất cả chúng sinh tránh được mọi đau khổ.
Thứ ba: hãy quán chiếu thân bất tịnh để giúp cho quý vị giảm bớt sự chấp thủ và nhiều cố chấp vào xác thân. Hãy chú tâm đến một vài thứ bất tịnh của xác thân như là bao tử, ruột, lá lách, máu mủ. Hãy suy niệm về những thứ bất tịnh này để làm giảm bớt lòng yêu chuộng xác thân.
Ðiều phòng hộ thứ tư về lợi ích cho tâm lý của quý vị là suy niệm về hiện tượng sự chết. Ðức Phật nhấn mạnh rằng cuộc sống vô thường, nhưng chết thì thường còn. Cuộc đời có cái chết là điều chắc chắn. Có sanh, bệnh, khổ, lão, và hiển nhiên có cái chết. Ðây là tất cả khía cạnh của cuộc sống.
Hãy dùng thế ngồi khi bắt đầu thực tập, ngồi kiết già. Quý vị có thể cảm thấy thoải mái hơn nếu chân quý vị không bị bắt chéo nhưng chỉ để nó nằm ngang trên mặt đất thôi, mà không phải đè chân này lên chân kia. Quý vị hãy nhờ vị thầy của mình giải thích thế ngồi cặn kẻ hơn. Nếu quý vị thấy ngồi trên sàng có liên quan đến việc thiền quán vậy thì hãy tìm một cách ngồi cho thoải mái hơn. Và bây giờ hãy tiếp tục từng bài tập trong thiền quán như đã trình bày.
Bài tập căn bản thứ nhất.
Hãy để tâm quý vị theo dõi phần bụng. Quý vị sẽ thấy được những sự chuyển động phồng và xẹp, thư giãn và để cho các cơ quan trong cơ thể thoải mái. Ðối với quý vị mới bắt đầu, nếu những sự chuyển động chưa rõ ràng, thì hãy đặt bàn tay ở bụng để cảm nhận được phồng và xẹp. Sau một thời gian ngắn động tác hít vào và thở ra sẽ trở nên rõ ràng. Rồi thì bắt đầu chú tâm đến phồng là sự chuyển động từ bên ngoài, xẹp là sự chuyển động từ bên trong. Tâm quý vị chú ý vào mỗi sự chuyển động phải được thực hiện ngay khi nó xảy ra. Từ bài tập này quý vị hiểu được cách chuyển động ở bụng. Quý vị không cần quan tâm đến hình thức của bụng. Những gì mà quý vị thực sự cảm nhận được là cảm giác của áp lực thân thể được gây ra do sự chuyển động mạnh ở bụng. Cho nên đừng có trú vào hình thức ở bụng mà hãy liên tục luyện tập.
Ðối với người mới bắt đầu, đó là một phương pháp tu tập rất hữu hiệu, cho việc phát huy sự chú tâm, tâm định và tuệ quán. Khi sự thực hành tiến bộ, thì động tác này sẽ được rõ ràng hơn. Chỉ khi nào tuệ quán tu tập đầy đủ thì đạt được khả năng thấy mỗi tiến trình thân tâm xảy ra liên tục ở sáu giác quan. Bởi vì quý vị là người mới bắt đầu cho nên sự chú tâm và năng lực định vọ n còn yếu kém, để giữ cái tâm trên mỗi động tác phồng xẹp khi nó xảy ra, đó là một khó khăn. Vì sự khó khăn này, quý vị có thể dễ dàng để suy nghĩ: "Tôi không biết làm thế nào để giữ tâm tôi trên từng chuyển động." Vậy thì quý vị đơn thuần chỉ nhớ đây là một phương pháp học tập mà thôi. Chuyển động phồng xẹp ở bụng thì luôn luôn xảy ra, và do đó không cần phải tìm kiếm chúng. Thực tế với sự thực hành này, người mới bắt đầu dễ dàng giữ tâm của mình trên hai sự chuyển động đơn giản đó. Quý vị hãy liên tục chú tâm thực hành bài tập chuyển động phồng xẹp ở bụng. Ðừng bao giờ dùng miệng để lập lại danh từ phồng xẹp, dù rằng quý vị được phép ghi nhận sự phồng xẹp trong tâm khi chúng xảy ra. Hãy nhận thức một cách rõ ràng tiến trình phồng xẹp ở bụng. Tránh tình trạng thở sâu hay nhanh đối với sự chuyển động ở bụng, bởi vì cách này gây ra sự mệt mỏi làm trở ngại việc tu tập. Chỉ cần chú tâm đến sự chuyển động phồng xẹp khi chúng xảy ra trong lúc thở bình thường.
Bài tập căn bản thứ hai.
Trong khi bận rộn với bài tập, theo dõi mỗi sự chuyển động ở bụng, những hoạt động tâm khác có thể xảy ra giữa sự chú niệm của mỗi cái phồng và xẹp. Những suy nghĩ như ý định, quan niệm, tưởng tượng...thì có lẽ xảy ra giữa mỗi sự chú tâm phồng và xẹp. Chúng không thể xem thường được. Chú tâm phải thực hiện mỗi khi nó xảy ra.
Nếu quý vị tưởng tượng cái gì, quý vị phải biết rằng mình đã làm như vậy và thực hiện một sự ghi nhận của tâm về sự tưởng tượng. Nếu quý vị đơn thuần suy nghĩ một cái gì, thì chú tâm suy nghĩ. Nếu quý vị suy tư, hãy ghi nhận sự suy tư. Nếu quý vị dự tính làm cái gì, hãy chú tâm đến sự dự tính. Khi đề mục thiền làm tâm phóng túng, đó làụ đề mục phồng và xẹp ở bụng, hãy chú tâm đến sự phóng túng. Nếu quý vị tưởng tượng mình đang đi đến một nơi nào đó, hãy chú tâm đến sự đi. Khi đến, hãy chú tâm vào sự đến. Khi quý vị nghĩ mình sẽ gặp một người, hãy chú tâm vào sự gặp. Nếu quý vị nói chuyện với nam hay nữ, hãy chú tâm đến sự nói. Nếu quý vị tranh luận sôi nổi với một người nào đó, hãy chú tâm đến sự tranh luận. Nếu quý vị hình dung hay tưởng tượng một ánh sáng hay màu sắc, hãy ghi nhận chắc chắn về thấy. Một sự chú tâm phải được ghi nhận từng cái sanh cho đến từng cái diệt của nó. Sau khi nó diệt, hãy tiếp tục bài tập căn bản thứ nhất qua sự chú tâm trọn vẹn vào sự phồng xẹp ở bụng. Hãy liên tục chăm chú mà không lơ là. Nếu quý vị dự định nuốt nước bọt trong khi làm như vậy, hãy chú tâm đến sự dự định. Khi nuốt niệm nuốt. Nếu quý vị dự định khạc nhổ, niệm khạc. Sau đó trở lại sự thực hành phồng và xẹp. Giả sử quý vị dự định cúi cổ xuống, niệm dự định. Trong khi đang cúi, niệm đang cúi. Khi quý vị có ý muốn thẳng cổ, niệm có ý muốn. Trong khi cổ thẳng, niệm đang thẳng. Những sự chuyển động cúi cổ xuống hay thẳng cổ lên phải thực hiện một cách chậm chạp. Sau khi tâm tập trung vào mỗi hành động đó, hãy liên tục tập trung đầy đủ bằng sự chú tâm phồng xẹp ở bụng.
Bài tập căn bản thứ ba
Bởi vì quý vị phải liên tục quán một thời gian lâu trong một tư thế ngồi hay nằm, quý vị có lẽ trải qua một cảm giác mệt mỏi, căng cứng mãnh liệt trong thân thể hay
tay chân. Nếu điều này xảy ra, thì đơn thuần chú tâm đến phần thân thể mà cảm giác nào xuất hiện và liên tục quán, mệt mỏi. Hãy làm điều này một cách tự nhiên, không quá nhanh mà cũng không quá chậm. Dần dần những cảm giác này trở nên uể oải hơn và cuối cùng đoạn diệt hoàn toàn. Nếu một trong những cảm giác này trở nên khó chịu hơn cho đến lúc thân thể mệt mỏi hay các khớp xương căng cứng không thể nào chịu đựng được, sau đó mới thay đổi tư thế ngồi. Tuy nhiên đừng có quên chú niệm đang dự định, trước khi quý vị cử động thay đổi oai nghi. Mỗi sự chuyển động có chi tiết phải được quán niệm theo thứ lớp kính cẩn của nó.
Nếu quý vị định giở tay chân, chú niệm đang giở. Trong cử chỉ giở tay hay chân, niệm đang giở. Mỗi sự co giãn tay hay chân, niệm đang co giãn. Khi quý vị cúi, niệm đang cúi. Khi để xuống niệm đang để. Nếu tay hay chân xúc chạm, niệm xúc chạm. Hãy thực hiện tất cả động tác trên khoan thai, hay cân nhắc kĩ lưỡng các oai nghi. Ngay khi ổn định trong oai nghi mới, hãy liên tục bằng sự quán những chuyển động ở bụng. Nếu quý vị cảm thấy không tiện lợi trong oai nghi mới, hãy trở lại sự quán chiếu trong một oai nghi khác, gìn giữ sự chú niệm như đã giải thích trong đoạn này.
Nếu một cảm giác ngứa ngái được cảm nhận trong phần thân thể, chú tâm trên phần đó và niệm đang ngứa. Làm điều này trong một oai nghi điều hòa, không quá nhanh không quá chậm. Khi cảm giác ngứa biến mất trong tiến trình nhận thức đầy đủ, liên tục với bài tập chánh niệm phồng và xẹp ở bụng. Nếu ngứa liên tục và trở nên ác liệt quá thì quý vị định gãi, hãy chú niệm đang dự định giở tay chậm cùng một lúc ghi nhận hành động giở và xúc chạm khi tay đụng phần ngứa đó. Hãy gãi chậm trong sự nhận thức việc làm một cách hoàn hảo. Khi cảm giác ngứa đã biến mất rồi thì quý vị cũng định không có tiếp tục gãi, hãy chánh niệm bằng sự chú tâm của hành động, đang hủy bỏ. Khi tay ngừng lại ở nơi thông thường của nó, va chạm chân, niệm xúc chạm. Vậy thì một lần nữa hãy dành hết thời gian của quý vị để quán chiếu phồng và xẹp.
Nếu có đau hay khó chịu, hãy chú tâm vào phần đó nơi mà cảm giác sanh khởi. Hãy chú niệm cảm giác rõ nhất khi nó xảy ra, như đau nhức, thúc ép, soi mói, mệt mỏi, choáng váng. Ðiều đó nhấn mạnh rằng, chú niệm không cần phải ép buộc cũng không trì hoãn mà hãy làm một cách tự nhiên và bình tỉnh. Cuối cùng đau nhức có thể diệt hay gia tăng thêm. Nếu nó gia tăng thêm, đừng có sợ hãi. Một cách kiên quyết, hãy tiếp tục quán chiếu. Nếu làm như vậy, quý vị sẽ thấy rằng đau nhức hầu như bị đoạn diệt. Nhưng nếu, sau một thời gian đã gia tăng và hầu như không thể chịu nổi, thì quý vị vờ đi đau nhức và tiếp tục với sự quán chiếu phồng và xẹp.
Khi quý vị tiến trong chánh niệm, quý vị có thể trải qua những cảm giác đau nhức mãnh liệt, cảm giác ngột ngạt hay khó thở cũng như đau nhức như dao cắt, nhát đâm của dụng cụ nhọn bén, cảm giác của một người không có hạnh phúc bị châm chích bởi kim nhọn, hay là những loài côn trùng nhỏ bò trên thân. Quý vị có thể trải qua những cảm giác ngứa ngái, nhức nhối, lạnh run. Ngay khi quý vị ngừng quán chiếu quý vị có lẽ cũng thấy rằng những cảm giác đau nhức này cũng đoạn diệt. Khi quán chiếu phục hồi lại, quý vị sẽ thấy chúng một lần nữa ngay khi quý vị đạt được chánh niệm. Những cảm giác đau nhức này không được xem như là một điều khó khăn. Chúng biểu lộ những điều bệnh hoạn nhưng những yếu tố thông thường đó luôn tồn tại trong thân và luôn làm mờ đi khi tâm bị bận rộn với những đối tượng khác. Khi năng lực tâm sắc sảo hơn, quý vị ghi nhận những cảm giác này nhiều hơn. Bằng sự tu tập quán chiếu liên tục quý vị sẽ khắc phục được chúng và chúng đoạn diệt hoàn toàn. Nếu quý vị liên tục suy niệm với mục đích vững chắc, quý vị sẽ gặp không phải sự nguy hiểm nào. Nếu quý vị mất đi sự can đảm, thì trở nên do dự trong sự suy niệm, và dừng lại trong một thời gian, quý vị có thể gặp phải những cảm thọ bất lạc này liên tục cho đến khi sự suy niệm của quý vị tiếp tục trở lại. Nếu quý vị liên tục với sự quyết tâm, quý vị sẽ có thể khắc phục được những cảm giác đau nhức này và có lẽ không bao giờ nếm mùi của chúng nữa trong tiến trình suy niệm.

Nếu quý vị dự định lúc lắc thân thể thì chú niệm đang dự định. Trong khi hành động lúc lắc, niệm đang lúc lắc, khi đang suy niệm quý vị có thể nhận ra thân đang lúc lắc phía sau và phía trước. Ðừng có sợ hãi, không có vui thích mà cũng không muốn tiếp tục lúc lắc nữa. Sự lúc lắc sẽ chấm dứt nếu quý vị chú tâm vào hành động lúc lắc và tiếp tục niệm đang lúc lắc cho đến khi nào nó chấm dứt. Nếu lúc lắc gia tăng thay vì quý vị chú tâm vào nó, thì quý vị nên tựa vào tường hay nằm xuống một lát để thư giãn. Sau đó tiếp tục với sự quán niệm. Hãy thực hành giống phương pháp đó thì dù bất cứ lúc nào quý vị cũng tự mình nhận thức được sự lúc lắc hay sự run sợ. Lúc quán niệm thì quý vị đã tu tập rồi, đôi khi quý vị cảm thấy sự run sợ hay lạnh lẽo xuyên qua phía sau hay trải khắp toàn thân. Ðây là triệu chứng cảm giác mạnh, sự thích thú, sự hăng hái hay trạng thái say mê. Nó diễn ra một cách tự nhiên trong một tiến trình quán niệm liên tục. Lúc tâm của quý vị kiên cố trong sự quán niệm, quý vị có thể bị giật mình từ một âm thanh sơ sài nhất. Ðiều này có thể xảy, ra bởi vì quý vị cảm nhận được kết quả của ấn tượng cảm giác mạnh mẽ hơn trong trạng thái định kiên cố. Nếu quý vị khát nước trong khi quán niệm, chú tâm cảm giác khát. Lúc quý vị dự định đứng, niệm dự định. Sau đó chú tâm vào mỗi sự chuyển động đứng. Chú niệm trên hành động đang đứng và niệm đang đứng. Lúc quý vị chờ đợi sau khi đứng thẳng, niệm nhìn, thấy. Nếu quý vị dự định đi tới, niệm dự định. Khi quý vị bắt đầu bước tới, chú niệm mỗi bước như là đang bước, đang bước hoặc trái bước, phải bước. Ðối với quý vị điều quan trọng là nhận biết được mỗi sự chuyển động của mỗi bước từ đầu cho đến cuối khi quý vị bước. Hãy trung thành với bài tập khi đi. Hãy cố chú tâm vào mỗi bước trong hai giai đoạn sau: giở bước, giở, bước. Khi quý vị thành tựu phương pháp thực hành đầy đủ trong oai nghi đi này, thì cố chú tâm vào mỗi bước ba giai đoạn: giở, bước, đạp.
Khi quý vị nhìn vào bình nước, hoặc trên đường đi đến nơi uống nước, hãy chú tâm kĩ lưỡng ghi nhận sự đang thấy, nhìn, sự trông thấy.
Khi quý vị dừng đi kinh hành, niệm dừng.

Khi quý vị co tay, niệm co.

Khi tay đụng vào tách, niệm đụng.

Khi tay cầm tách, niệm cầm.

Khi tay rửa tách, niệm rửa.

Khi tay đứa tách lên môi, niệm đưa.

Khi tách đụng vào môi, niệm đụng.

Nếu cảm giác lạnh, niệm lạnh.

Khi quý vị nuốt, niệm nuốt.

Khi để tách xuống, niệm để.

Kéo tay lên, niệm kéo.

Khi quý vị hạ tay xuống, niệm hạ.

Khi tay đụng vào thân, niệm đụng.

Nếu quý vị dự định xoay lại, niệm dự định.

Khi quý vị xoay, niệm xoay.

Khi quý vị bước tới, niệm bước.

Bước đến nơi quý vị dự định dừng, niệm dự định.

Khi dừng, niệm dừng.
Nếu quý vị ở lại chịu đựng một thời gian tiếp tục quán niệm phồng xẹp. Nhưng nếu dự định ngồi xuống, niệm dự định. Khi quý vị đi đến để ngồi xuống, niệm đi. Ðến nơi quý vị sẽ ngồi, niệm đi đến. Lúc xoay để ngồi, niệm xoay. Trong khi hành động ngồi, niệm đang ngồi. Hãy ngồi xuống chậm rãi, và chú tâm trên thân chuyển động ngồi xuống. Quý vị phải ghi nhận mỗi sự chuyển động tay chân trong từng oai nghi. Sau đó lại tiếp tục thực hành bài tập quán niệm phồng và xẹp.
Nếu quý vị dự định nằm xuống, niệm đang dự định. Từ đó tiếp tục với sự quán niệm mỗi chuyển động trong tiến trình nằm xuống: giở, co, dừng, đụng, nằm. Sau đó thực tập như đề mục quán niệm từng sự chuyển động tay chân và thân thể trong mỗi oai nghi. Hãy thực hiện những hành động này chậm rãi. Sau tiếp tục niệm phồng xẹp. Nếu đau nhức, mệt mỏi, ngứa ngái, hoặc bất cứ cảm giác nào mà quý vị cảm thấy, hãy ghi nhận từng cảm giác ấy. Hãy ghi nhận tất cả cảm giác, suy nghĩ, ý tưởng, quan tâm, phản chiếu, tất cả chuyển động tay chân và thân thể. Nếu không có gì đặc biệt để ghi nhận, thì chú tâm vào phồng xẹp ở bụng. Chú tâm vào uể oải khi bị uể oải, và khi buồn ngủ, niệm buồn ngủ. Sau khi quý vị đã đạt đến định tâm đầy đủ trong sự quán chiếu thì quý vị có thể khắc phục được hôn trầm, uể oải và cảm thấy thoải mái khi có kết quả. Hãy áp dụng trở lại sự quán niệm thường xuyên trong đề mục cơ bản. Giả sử như quý vị không thể khắc phục được cảm giác uể oải, sau đó quý vị phải liên tục quán niệm cho đến khi quý vị ngủ thiếp đi.
Trạng thái buồn ngủ là tính liên tục của tiềm thức. Nó giống như trạng thái đầu tiên của thức tái sanh và trạng thái sau cùng của thức cận tử. Trạng thái thức này nhu nhược cho nên không thể nhận thức được đối tượng. Khi quý vị sáng suốt, chuỗi tiềm thức này xảy ra một cách đều đặn giữa sát-na, thấy, nghe, nếm, ngửi, đụng và suy nghĩ. Bởi vì những sự diễn biến thì giới hạn, chúng thường không rõ ràng và do đó không thể nhận thấy được. Tính liên tục của tiềm thức còn lại trong suốt giấc ngủ, sự việc thì trở nên rõ ràng hơn khi quý vị tỉnh thức, vì nó còn tồn tại trong trạng thái tỉnh thức những suy nghĩ và những đối tượng đần độn kia sẽ trở nên rõ rệt.

Quán niệm sẽ bắt đầu ở giây phút khi quý vị thức giấc. Bởi vì quý vị là người mới bắt đầu, nên không thể nào quán niệm ở giây phút đầu ngay khi thức giấc được. Nhưng quý vị nên bắt đầu từ giây phút khi quý vị nhớ rồi quý vị bắt đầu quán. Ví dụ nếu đang thức giấc, quý vị phản chiếu cái gì, quý vị nên nhận rõ sự việc và bắt đầu sự quán của mình bằng niệm, phản chiếu. Tiếp theo liên tục quán phồng xẹp. Lúc thức giấc rời khỏi giường, chánh niệm phải trực tiếp đến từng chi tiết của cử động thân thể. Mỗi cử động tay chân và thân thể phải được thực hiện trong sự nhận thức hoàn hảo. Quý vị có suy nghĩ về thời giờ trong ngày khi thức giấc không? Nếu có, niệm đang suy nghĩ. Quý vị có ý muốn đi ra khỏi giường không? Nếu có, niệm muốn. Nếu quý vị chuẩn bị cử động thân trong oai nghi phồng, niệm chuẩn bị. Khi phồng chậm, niệm phồng. Khi quý vị ngồi, niệm ngồi. Nếu quý vị còn ngồi lâu nữa, hãy quay lại sự quán niệm phồng xẹp ở bụng.
Hãy thực hiện hành động rửa mặt, đi tắm theo thứ tự của mình và làm trong sự nhận thức đầy đủ của mỗi hành động; ví dụ: nhìn, thấy, co, cầm, đụng, cảm giác, lạnh, thở. Trong hành động ăn mặc, sửa soạn giường ngủ, đóng và mở cửa, sử dụng đồ vật, hãy làm chúng bằng chánh niệm. Quý vị phải chăm chú quán niệm từng chi tiết trong hành động ăn:
Lúc nhìn thực phẩm, niệm nhìn.

Lúc chuẩn bị thực phẩm ăn, niệm chuẩn bị.

Lúc đưa thực phẩm vào miệng, niệm đưa.

Lúc ngước cổ lên, niệm ngước.

Lúc thức ăn chạm vào miệng, niệm chạm.

Lúc để thức ăn trong miệng, niệm để.

Lúc miệng khép lại, niệm khép.

Lúc rút tay, niệm rút.

Nếu tay chạm vào dĩa, niệm chạm.

Lúc thẳng cổ, niệm thẳng.

Lúc nhai, niệm nhai.

Lúc quý vị biết hương vị, niệm vị.

Lúc nuốt thực phẩm, niệm nuốt.

Nếu, trong khi nuốt, thực phẩm bị chạm vào phía cổ họng, niệm chạm.
Hãy thực hiện quán niệm trong oai nghi này mỗi lần quý vị cùng chia xẻ miếng thức ăn cho đến khi nào quý vị dùng xong bửa. Bắt đầu thực hành sẽ có nhiều điều sơ sót. Ðừng có bận tâm, đừng có lưỡng lự trong sự tinh tấn của quý vị. Nếu quý vị bền chí trong sự thực hành thì quý vị sẽ có ít sơ sót hơn. Lúc quý vị đạt đến giai đoạn thực hành cao, quý vị cũng có thể ghi nhận nhiều chi tiết hơn trong những điều đã đề cập ở đây.
Bài tập thiền hành căn bản
Giữa buổi thực tập thiền tọa, quý vị có thể xen kẽ với thiền hành kéo dài khoảng bốn mươi phút đến chín mươi phút. Ðiều đó sẽ làm quân bình những yếu tố định tâm và ngũ lực đồng thời nó khắc phục được sự hôn trầm. Trên một khoảng đất yên tĩnh hay trong một căn phòng quý vị có thể thực hiện bài tập thiền hành này. Ðối với thiền hành, thật là hữu ích nếu quý vị bước đi chầm chậm. Về tốc độ bước đi chậm đều là mẫu mực, tuy nhiên quý vị nên đi trong oai nghi tự nhiên và đơn giản theo tốc độ cho phép. Trong suốt thời gian đi kinh hành, quý vị nên tập trung vào sự chuyển động của bàn chân và bước đi. Quý vị nên chú tâm chân phải bắt đầu giở lên khỏi đất, niệm giở, khi nó chuyển tới, niệm bước, và khi nó để xuống đất, niệm đạp. Chân trái cũng tương tự như vậy...
Cùng một oai nghi giống như vậy trong khi ngồi thực hành thiền hơi thở, tất cả những suy nghĩ phóng túng hoặc những cảm giác cần phải được chú tâm. Nếu quý vị nảy lên ý muốn nhìn cái gì trong lúc đi, lập tức quý vị ghi nhận sự nhìn và ghi nhận lại sự chuyển động của bàn chân. Hãy nhìn quanh và ghi nhận những chi tiết của đề mục. Thậm chí những chi tiết của những đề mục đó trên con đường đi của quý vị không phải là một phần của sự tu tập. Nếu quý vị thực hành thiếu thận trọng thì hãy ghi nhận sự nhìn.
Ði cuối con đường hành giả tác ý xoay và đi ngược lại. Quý vị sẽ nhận thức việc làm này từng bước một. Tác ý xoay phải niệm tác ý. Lúc đầu khó tác ý nhưng nếu định mạnh mẽ thì tác ý sẽ dễ dàng hơn. Sau khi tác ý xoay, ghi nhận tất cả những suy nghĩ và những sự chuyển động xoay. Khi bước tới cuối cùng chấm dứt thì quý vị bắt đầu xoay lại, quý vị phải niệm đang xoay. Lúc bước chân khác ngẩng lên, giở, bước, đạp... sau khi quý vị bước ra trên con đường trở lại một lần nữa, niệm giở, bước, đạp. Thường có sự cám dỗ xuất hiện khiến quý vị nhìn và liếc xung quanh cái gì hấp dẫn. Nếu tư tưởng vô kỷ luật này xảy ra thì phải chú niệm như đang tác ý, và sự chú tâm có thể trở lại chuyển động bàn chân một lần nữa tự nhiên.
Thông thường thật là tốt cho người mới bắt đầu để phát huy phương pháp thiền hành này bằng ba giai đoạn kĩ thuật chú tâm niệm. Giở, bước, đạp. Tùy thuộc vào khả năng và người thầy dạy của quý vị, có thể dạy ít hơn hay nhiều hơn những giai đoạn chú tâm. Ðôi khi đi quá chậm thì bất tiện, đặc biệt bên ngoài những vùng thiền lân cận của quý vị, dường như đơn giản trái bước, phải bước, điều đó sẽ đáp ứng nhu cầu cho những trường hợp này. Ðiểm quan trọng thì không bao nhiêu hay điểm chú tâm thực hiện thì ít. Nhưng quý vị có thực sự nhận thức chúng khi chúng xảy ra hay không, hay là tâm quý vị tập trung yếu.
Tiến bộ trong sự quán chiếu
Sau một thời gian thực hành, quý vị có thể thấy được sự quán chiếu của mình có nhiều tiến bộ và sự quán chiếu đó quý vị có thể kéo dài đề mục cơ bản phồng xẹp ở bụng. Vào lúc này, quý vị thường thấy có gián đoạn giữa chuyển động phồng và xẹp. Nếu trong oai nghi ngồi mà đầy ắp sự gián đoạn thì quý vị chú niệm theo cách này: phồng, xẹp, ngồi. Lúc chú niệm ngồi, giữ tâm của mình trong tư thế ngồi ngay thẳng. Lúc nằm xuống quý vị nên nhận biết đầy đủ như: phồng, xẹp, nằm. Nếu nhận biết điều này dễ dàng thì tiếp tục chú niệm ba giai đoạn này. Quý vị nên chú ý là một sự gián đoạn xuất hiện cuối chuyển động phồng cũng như chuyển động xẹp, thì hãy tiếp tục niệm theo cách này: phồng, ngồi, xẹp,ngồi. Hay khi nằm xuống niệm: phồng, nằm, xẹp, nằm. Giả sử quý vị không còn nhận biết nó dễ dàng nữa thì chú tâm vào ba hoặc bốn đối tượng ở cách trên. Sau đó trở lại cách chú niệm ban đầu là chỉ hai giai đoạn phồng và xẹp thôi.
Trong khi tu tập quán thân thường xuyên, quý vị không cần phải liên tưởng đến đối tượng thấy và nghe. Chừng nào quý vị chánh niệm được chuyển động phồng và xẹp ở bụng thì lúc đó mới thấy được mục đích chú tâm vào những hành động và đối tượng thấy và nghe mới được lợi ích. Tuy nhiên quý vị cố ý nhìn vào một đối tượng, thì sau đó cùng một lúc chú niệm, hai hoặc ba lần, thấy. Về sau hãy trở lại với sự nhận thức ở bụng. Giả sử một số người ngắm cảnh, hãy chú tâm đang ngắm, hai hoặc ba lần, và sau đó tiếp tục chú tâm đến chuyển động phồng và xẹp ở bụng. Tình cờ quý vị có nghe được âm thanh không? Có lắng tai nghe nó không? Nếu có hãy chú niệm nghe, nghe trong khi nó đang xảy ra, và sau khi làm như vậy xong rồi, hãy trở lại niệm phồng và xẹp. Nhưng nếu quý vị nghe âm thanh lớn, như tiếng chó sủa, nói chuyện lớn tiếng hay ca hát. Nếu xảy ra như vậy, lập tức chú niệm hai hoặc ba lần, nghe. Sau đó trở lại đề mục chú tâm cơ bản của mình là phồng và xẹp. Lúc những chuyện trên xảy ra, nếu quý vị thất niệm và gạt bỏ những cảnh tượng và âm thanh như thế thì vô tình rơi vào sự suy niệm về chúng, thay vì tiếp tục chú tâm đến phồng và xẹp, thế thì phồng và xẹp trở nên kém riêng biệt và rõ ràng hơn. Ðiều đó do chú tâm yếu nên tâm cấu uế phát sanh và tăng trưởng. Nếu những suy niệm như vậy xảy ra, chú tâm hai hoặc ba lần, suy niệm và một lần nữa tiếp tục niệm phồng xẹp. Nếu quý vị quên niệm những chuyển động thân thể tay chân, thì sau đó niệm quên, và tiếp tục niệm thường những chuyển động ở bụng. Ðôi khi quý vị cảm thấy là hơi thở chậm hay chuyển động phồng xẹp ở bụng chưa cảm nhận rõ ràng. Khi điều này xảy ra, cùng lúc ngồi, đơn giản là tiếp tục niệm ngồi, đụng. Nếu đang nằm xuống, niệm nằm, đụng. Trong khi niệm đụng, tâm của quý vị không nên trú vào một phần thân thể giống nhau, mà nên trú vào phần thân thể khác nhau một cách liên tục. Có nhiều vị trí để đụng, và ít nhứt là có sáu hoặc bảy chỗ mà người ta được niệm. Một vài điểm này là nơi đụng của đầu gối và bắp vế, hay là bàn tay giao nhau, hay là ngón tay với ngón tay, ngón tay cái với ngón tay cái, nhắm mí mắt lại, lưỡi nằm phía trong miệng, hai môi chạm vào nhau.
Bài tập căn bản thứ tư
Cho đến điểm nầy quý vị phải dành hết toàn bộ thời gian cho tiến trình tu tập. Quý vị có thể cảm thấy lười biếng sau khi nhận thức rằng tiến trình không phù hợp, thì hãy từ bỏ nó. Ðơn giản là hãy ghi nhận sự kiện "lười biếng". Trước khi quý vị có đầy đủ sức mạnh trong sự tập trung, định tâm và tuệ giác, quý vị có thể vẫn còn hoài nghi về sự đúng đắn hay lợi ích của phương pháp tu tập này. Trong trường hợp như vậy hãy quay lại niệm tâm hoài nghi. Quý vị có thể hy vọng hoặc mong đợi những kết quả tốt đẹp không? Nếu có như vậy hãy thực hiện đề mục niệm của quý vị, hy vọng, hoặc mong đợi. Quý vị đang cố nhớ lại phương pháp tu tập này cho đến khi nào đã được kiểm chứng phải không? Ðúng vậy? Lúc đó áp dụng đề mục tỉnh tâm. Có những lúc khi hành giả kiểm chứng đề mục suy niệm để xác định nó là tâm hay vật chất? Nếáu như vậy thì hãy chú niệm đến sự kiểm chứng. Quý vị có hối tiếc rằng không có sự tiến bộ trong đề mục suy niệm của mình không? Nếu có, thì hãy chú tâm đến cảm giác hối tiếc đó. Ngược lại quý vị có vui thích rằng đề mục niệm của quý vị đang được tu tập không? Nếu có, thì hãy niệm cảm giác đang vui thích. Ðây là phương pháp mà quý vị nên chú tâm vào mỗi lần của trạng thái tâm khi nó xuất hiện, và nếu không có những suy nghĩ nào xen vào hoặc là những ý niệm nào để ghi nhận, thì hành giả nên trở lại phồng và xẹp.
Trong khóa thiền tích cực, thời gian thực hành thì tùy thuộc vào lúc ban đầu hành giả thức giấc cho đến khi nào ngủ thiếp đi. Ðể nhắc lại, hành giả phải luôn khi gìn giữ đề mục căn bản hay chánh niệm cả ngày lẫn đêm lúc hành giả chưa đi ngủ. Không cần phải thư giãn. Cho đến khi nào đạt đến một mức độ nào đó trong chánh niệm thì hành giả sẽ không cảm thấy buồn ngủ mặc dù lúc này hành giả kéo dài giờ giấc tu tập thêm. Ngược lại, hành giả sẽ liên tục chánh niệm ngày và đêm.
Tóm lại những điều trên đã được nhấn mạnh trong hình thức tu tập trong sáng này mà quý vị phải niệm mỗi ý nghĩ thiện hay ác xảy ra, mỗi chuyển động thân thể lớn hay nhỏ, mỗi cảm giác (cảm giác thân tâm) vui, buồn... Nếu trong khóa tu, những duyên cớ phát sanh lúc không có pháp gì đặc biệt để niệm đến, hãy gìn giữ chánh niệm đầy đủ tới phồng xẹp ở bụng. Lúc đó quý vị phải chú trọng đến bất kỳ loại sinh hoạt nào mà cần thiết cho thiền hành. Sau đó bằng sự nhận thức đầy đủ, mỗi bước đi phải được chú tâm như là bước, bước, hay trái bước, phải bước. Nhưng khi quý vị đang chú tâm bài tập thiền hành, hãy niệm mỗi bước đi trong ba giai đoạn, giở, bước, đạp.
Thật vậy hành giả là người ám chỉ cho sự tu tập ngày và đêm, sẽ dễ dàng phát huy định ở giai đoạn tuệ sanh diệt và tiến lên giai đoạn cao hơn nữa của thiền minh sát.
Giai đoạn tiến triển
Như đã đề cập ở trên, bằng cách tu tập chuyên cần, chánh niệm và chánh định đã được tiến triển, hành giả nên chú niệm phương cách song đôi diễn tiến của một đối tượng và ghi nhận nó, ví dụ như, niệm phồng và ghi nhận cái phồng, niệm xẹp và ghi nhận cái xẹp, niệm ngồi và ghi nhận cái ngồi, niệm co và ghi nhận co, niệm duỗi và ghi nhận duỗi, niệm dỡ và ghi nhận dỡ, niệm đạp và ghi nhận đạp. Nhờ tập trung chánh niệm, hành giả nhận biết cách để phân biệt mỗi tiến trình danh và sắc: "Chuyển động phồng là một tiến trình, nhận biết phồng là một tiến trình khác, xẹp là một tiến trình, nhận biết xẹp là một tiến trình khác nữa. Hành giả liễu tri rằng mỗi cử chỉ nhận thức có bản chất "góp phần vào một đối tượng". Ðiều đó là sự nhận thức ám chỉ cho chức năng riêng biệt của tâm bằng sự liên quan với một đối tượng, hoặc là nhận thức một đối tượng. Nên biết rằng ai càng chú niệm đề mục thân thể thì tiến trình tâm ghi nhận thân thể càng trở nên nhàm chán hơn. Ðiều này được dạy trong Thanh tịnh đạo (Visuddhi Magga) như đối với vị ấy, để cho cân xứng với sắc pháp trở nên dễ xác định, phân biệt và rất rõ ràng, những trạng thái vô sắc đến nỗi quả quyết sắc đó như là đối tượng của chúng thì cũng tự trở nên rõ ràng hơn.
Khi nào thiền sinh nhận biết được sự khác nhau giữa danh và sắc, nếu thiền sinh là người trong sạch, thì sẽ suy niệm từ kinh nghệm trực tiếp như vầy: "Có phồng và ghi nhận phồng, có xẹp và ghi nhận xẹp,... không có cái gì khác ngoài phồng và xẹp. Danh từ đàn ông, đàn bà có liên quan cùng phương thức, không có chúng sanh hay linh hồn gì cả". Nếu hành giả là người học rộng biết nhiều, sẽ suy niệm sự hiểu biết khác nhau trực tiếp giữa tiến trình sắc pháp cũng như đối tượng và tiến trình danh pháp như vầy: "Sự thật là chỉ có thân và tâm. Ngoài thân và tâm ra không có sự hiện hữu nào như đàn ông, đàn bà. Trong khi quán, hành giả chú niệm tiến trình sắc pháp, đối tượng, danh pháp, và nó là đôi đơn điệu. Thuật ngữ thông thường ám chỉ là: chúng sinh, con người, linh hồn, đàn ông, đàn bà. Nhưng ngoài tiến trình kép đó ra, không có con người hay chúng sinh nào phân đôi cả, tôi hay người khác đàn ông hay đàn bà". Khi nào những sự phản chiếu như thế xuất hiện, hành giả phải chú niệm phản chiếu, phản chiếu và tiếp tục theo dõi phồng xẹp ở bụng...
Bằng sự tiến triển xa hơn nữa trong thiền định, ý muốn thì có trước khi thân cử động. Hành giả chú niệm ý muốn đó trước tiên. Thế nhưng cũng bắt đầu bằng sự thực hành, hành giả chú niệm ý muốn, ý muốn (chẳng hạn như co tay), nhưng không thể nào chú niệm ý muốn đó một cách riêng biệt được. Bây giờ ở giai đoạn tiến triển này, hành giả chú niệm rõ tâm chú ý co. Cho nên trước khi chú niệm ý muốn để cho thân di chuyển, thì hành giả mới chú niệm thân di chuyển tốt đẹp hơn, bởi vì thiếu chú niệm, cho nên hành giả nghĩ rằng thân chuyển động thì nhanh hơn tâm ghi nhận. Bây giờ ở mức tiến bộ này, hành giả thấy tâm trở nên hiện trước. Hành giả sẵn sàng chú niệm ý muốn co, duỗi, ngồi, đứng, đi... hành giả cũng ghi nhận rõ co, duỗi thực sự đó... Vì thế thiền sinh nhận biết được sự kiện là tâm biết được quá trình thân thì nhanh hơn quá trình vật chất. Kinh nghiệm trực tiếp cho thấy là quá trình thân xảy ra sau ý muốn. Một lần nữa, hành giả hiểu kinh nghiệm trực tiếp là cường độ nóng và lạnh gia tăng trong khi hành giả đang chú niệm nóng, nóng hay lạnh, lạnh. Niệm đều đặn và chuyên chú thân chuyển động như phồng xẹp ở bụng, hành giả chú niệm liên tục lần lượt cái nọ sang cái kia. Cũng chú niệm sự sanh khởi trong hành giả những cảnh tượng tâm khác nhau như là đức Phật, chùa chiền, thân thể, hay đề mục thiên nhiên. Hành giả cũng chú tâm bất kỳ cảm giác nào mà sanh khởi trong thân của hành giả (như ngứa ngái, đau nhức, nóng nực) bằng chánh niệm trực tiếp trên chỗ mà cảm giác xuất hiện. Một cảm giác vừa mới biến mất, sau đó một cái khác nữa sanh khởi, và do đó hành giả chú niệm chúng tất cả. Trong khi chú tâm mỗi đề mục khi nó sanh khởi hành giả nhận thấy rằng một quá trình tâm nhận thức tùy thuộc vào một đề mục. Ðôi khi niệm phồng và xẹp ở bụng quá uể oải đến nỗi hành giả thấy không có gì để chú tâm cả. Thế thì, đối với hành giả nó xuất hiện là không thể không có sự nhận thức ngoài một đề mục. Lúc không chú tâm vào phồng và xẹp thì có thể hành giả nên ghi nhận ngồi và đụng hay nằm và đụng. Ðụng thì chú niệm một cách luân phiên. Ví dụ, sau khi chú niệm ngồi, thì hãy chú niệm cảm giác đụng ở bàn chân phải (nguyên nhân tiếp xúc với đất và chỗ ngồi). Vậy thì, sau khi chú niệm ngồi, thì hãy chú niệm cảm giác đụng ở bàn chân trái. Cùng cách đó, hãy chú niệm những cảm giác đụng ở nhiều chỗ. Trở lại trong sự chú niệm thấy, nghe...hành giả nên biết rõ là thấy xuất phát từ sự tiếp xúc của mắt và đối tượng thấy, nghe xuất phát từ sự tiếp xúc của tai và âm thanh. v. v .

Xa hơn nữa, hành giả thấy: "quá trình co, duỗi của sắc pháp... thì đi theo sau quá trình muốn co, duỗi của danh pháp..., hành giả liên tục quán: "Thân của hành giả trở nên nóng hay lạnh bởi vì yếu tố hơi nóng hay hơi lạnh; thân hiện có thức ăn và thực phẩm, tâm sanh khởi bởi vì có những đề mục để chú niệm; thấy sanh khởi là do những đối tượng thấy; nghe là do âm thanh... và cũng thế bởi vì có những giác quan, mắt, tai... như là những nhân tố điều kiện. Ý muốn và chú tâm là do học hỏi những kinh nghiệm quá khứ; tất cả những cảm giác là những hệ quả của nghiệp cũ. Không có ai tạo nên thân và tâm này, và tất cả xảy ra đều có những yếu tố nhân quả". Trong khi hành giả đang chú niệm đến bất kỳ đề mục nào khi nó sanh khởi thì những suy nghĩ như thế đến với hành giả. Hành giả không nên ngừng làm như vậy để dành thời gian phản chiếu. Trong khi những đề mục chú niệm sanh khởi, hành giả thấy những sự phản chiếu này quá nhanh đến nỗi tự động chúng hiện. Sau đó hành giả phải niệm, phản chiếu, phản chiếu, nhận biết, nhận biết và liên tục với những đề mục chú niệm như thường lệ. Sau khi suy niệm rằng những quá trình danh pháp và sắc pháp được chú niệm là duyên bởi những quá trình trước của cùng bản chất, hành giả suy niệm xa hơn nữa trong kiếp sống trước thân và tâm đó là duyên bởi những nguyên nhân trước, thì trong kiếp sống sau, thân và tâm sẽ đưa đến kết quả là tương đồng những nguyên nhân, và trừ những quy trình kép này không có phân chia chúng sinh hay con người, chỉ có nhân và quả xảy ra thôi. Những sự suy niệm này cũng phải được chú niệm và sau đó nên quán tiếp tục như thường lệ. Trong trường hợp những sự suy niệm như thế sẽ có nhiều người có khiếu thông minh nhất và ít hơn trong trường hợp những người đó không có khiếu thông minh như vậy. Sự chú niệm kiên cố phải được chuẩn bị cho tất cả những sự suy niệm này. Ghi nhận chúng sẽ đưa đến một kết quả là biến đổi chúng đến một mức tối thiểu nào đó, sự cho phép quán để tiến triển không làm trở ngại do quá mức suy niệm như vậy. Ðiều đó phải được thực hiện dĩ nhiên là mức tối thiểu của sự suy niệm sẽ đáp ứng nhu cầu cho ở đây.
Trong khi thực hành liên tục trong một phương pháp tập trung, hành giả có thể trải qua hầu hết những cảm giác không thể chịu đựng được, như là ngứa ngái, đau nhức, nóng nực, mờ mắt và sự tê cứng. Nếu chú tâm niệm thì những cảm giác đó sẽ biến mất. Khi chú tâm yếu, chúng sẽ lại xuất hiện. Như đã nói trước đây, những cảm giác như thế sanh khởi do ảnh hưởng sự nhạy cảm tự nhiên của thân và không có triệu chứng bệnh tật. Nếu những cảm giác đó được chú niệm bằng sự tập trung mạnh mẽ thì những cảm giác đó sẽ mờ nhạt dần dần.
Trở lại, đôi khi hành giả trông thấy tất cả những loại hình ảnh duờng như trông thấy chúng bằng đôi mắt riêng của mình. Ví dụ, thấy đức Phật đến từ bối cảnh huy hoàng rực rỡ; sự xuất hiện của ngài trên cõi đời; chùa chiền và hình ảnh của đức Phật; tình cờ gặp những người thương yêu, thấy cây cối hay rừng rậm, đồi núi, những khu vườn, những tòa nhà, thấy thân thể mập mạp hay khúc xương gầy gò; sự hủy diệt của những tòa nhà và sự tan rã của thân thể, sự phồng ra của thân thể, phủ đầy với máu, có thể chia thành những bộ phận và làm nhỏ đi cho bộ xương thuần khiết; thấy cơ quan thân thể con người thì có nhiều ruột và đầy sức sống và thạâm chí có nhiều vi khuẩn, thấy cư dân của địa ngục và thiên đàng... những cái này thì không có gì thực cả, ngoại trừ những vật được sáng tạo của trí tưởng tượng. Chúng giống như những gì mà loài người tình cờ gặp trong giấc mơ. Chúng không cần để người ta chào đón và thích thú và cũng không cần người ta sợ hãi chúng. Những đề mục này dường như là tiến trình niệm không có thực; chúng chỉ là những hình ảnh hay trí tưởng tượng mà thôi, bởi vì tâm thấy những đề mục đó mới là sự thực. Tuy nhiên tâm chỉ là những quá trình tinh thần, không có liên quan đến năm giác quan, không dể chú niệm với chi tiết và sự trong sáng đầy đủ được. Do đó chú tâm chính phải được tập trung vào đối tượng giác quan (trần cảnh) thì mới có thể chú niệm một cách dễ dàng được, và đối với những quá trình tinh thần đó lúc sanh khởi có liên quan với những ý niệm tri giác. Cho nên bất cứ đối tượng nào xuất hiện, hành giả phải niệm thầm, thấy, thấy cho đến khi nào nó biến mất rồi thôi. Nó sẽ dang ra, giải tán hoặc là tách rời. Lúc bắt đầu, điều này sẽ mất nhiều lần chú niệm, niệm khoảng năm hoặc mười tiếng. Nhưng khi tuệ giác phát huy, thì cảnh sẽ biến mất sau một đôi chú niệm. Tuy nhiên nếu hành giả thích cảnh đó, hoặc để nhìn sự việc tỉ mỉ hơn, hoặc là trở nên sợ hãi nó, sẽ làm đình trệ sự tiến bộ của hành giả. Nếu đối tượng được người ta cố gây ra, thì qua niềm vui thích đối tượng sẽ kéo dài một thời gian lâu hơn, khi nào sự tập trung của hành giả đuợc tốt đẹp thì sự chú tâm phải được gìn giữ không cho phóng túng hoặc không còn liên tưởng đến những vấn đề bên ngoài. Nếu như những suy nghĩ nào đó xuất hiện, những suy nghĩ đó phải được chú niệm và xua đuổi chúng ngay lập tức. Trong trường hợp những người không gặp phải những đối tượng đặc biệt hay những cảm giác trong khi đang chú niệm thường xuyên, thì những người đó trở nên lười biếng. Những người đó phải chú niệm sự lười biếng này như vầy: lười biếng lười biếng, cho đến khi nào khắc phục được nó thôi. Ở giai đoạn này, bất cứ trường hợp nào hành giả tình cờ gặp những đối tượng cảm xúc đặc biệt nào, hành giả bắt đầu ghi nhận rõ ràng, trung thực, với mỗi giây chú niệm kiên cố. Lúc ban đầu thực hành, trong khi chú niệm một đề mục, hành giả phải thay đổi niệm một đề mục khác nhau nữa mà nó sanh khởi, nhưng hành giả không nên chú niệm rõ sự biến mất của đề mục trước. Nếu như hành giả chú niệm đề mục mới sanh khởi, thì bây giờ chỉ ghi nhận sự biến mất của một đề mục. Như vậy hành giả có một tuệ giác đầu tiên rõ ràng, trung thực và những giai đoạn cuối của đề mục đã đạt chú niệm.
Trong giai đoạn này, lúc trở nên thành thạo hơn, hành giả ghi nhận mỗi hành động chú niệm mà một đề mục sanh khởi bất thình lình và không sanh khởi ngay lập tức. Ý niệm của hành giả thì quá rõ đến nỗi hành giả suy niệm như vầy: "Tất cả mọi thứ sanh và diệt, tất cả đều hoại diệt, không có gì thường hằng, nó thật sự là vô thường". Sự suy niệm của hành giả thì hoàn toàn phù hợp với những gì được dạy trong chú giải kinh tạng Pàli: "Tất cả mọi vật thì vô thường, theo ý nghĩa hoại diệt của nó, không có tồn tại sau kiếp sống này". Hành giả suy niệm thêm nữa: "Vì vô minh nên chúng ta thụ hưởng cuộc sống. Nhưng theo giáo lý thì không có gì để thụ hưởng cả, chỉ có sanh và diệt liên tục và chúng ta bị ưu phiền mãi mãi. Ðiều này quả thực là khủng khiếp. Trong bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể chết và mọi thứ thì thật sự sanh và diệt. Thật vậy sự vô thường của thế gian này quá kinh khủng và khiếp đảm làm sao! Sự suy niệm của hành giả phù hợp với lời dạy trong chú giải: "Những gì không thường hằng thì đau khổ, đau khổ có nghĩa là khủng khiếp; đau khổ là bởi vì sự áp bức do sanh và diệt". Lại nữa, những đau nhức khốc liệt theo kinh nghiệm hành giả suy niệm như sau: "Tất cả là đau khổ, tất cả là khó chịu". Sự suy niệm này phù hợp với những gì mà chú giải kinh điển đề cập đến: "hành giả quán đau nhức như là gai nhọn, mụn nhọt, ngọn mác". Hành giả suy niệm xa hơn nữa: "Ðây là một khối đau khổ, đau khổ không thể nào tránh được. Sanh và diệt, nó vô dụng. Người ta không thể nào dừng lại ở tiến trình sanh và diệt. Nó vượt ra ngoài khả năng của con người. Nó theo tiến trình tự nhiên của nó". Suy niệm này hoàn toàn phù hợp theo chú giải: "Những gì đau nhức thì không có ngã, không có bản ngã theo ý nghĩa là không có trung tâm điểm,bởi vì không có sức mạnh luyện tập trên đó". Hành giả phải chú niệm tất cả những sự suy niệm và tiếp tục quán như thường lệ.




Như vậy, sau khi thấy được tam tướng bằng kinh nghiệm từng trải, nhờ suy luận những đề mục trực tiếp đã chú niệm, hành giả hiểu tất cả những đề mục chưa được niệm như là vô thường, khổ não và vô ngã.




Ðối với những đề mục nào chưa có đích thân trải qua, hành giả kết luận: "Những đề mục đó cũng được cấu tạo cùng một cách: vô thường, khổ não và vô ngã". Ðây là một sự suy luận từ kinh nghiệm trực tiếp trong hiện tại. Sự nhận thức như thế chưa rõ ràng trong trường hợp người có khả năng kém thông minh hay tuệ giác giới hạn, người đó không tập trung đến sự suy niệm được đơn thuần là tiếp tục những đề mục chú niệm. Nhưng sự nhận thức này thường xảy ra cho những ai bó tay trong sự suy niệm, trong một số trường hợp sự suy niệm có thể xảy ra ở mỗi động tác chú niệm. Tuy nhiên suy niệm quá mức là một sự trở ngại cho sự tiến triển của tuệ giác. Dù không có những suy niệm đó xảy ra trong giai đoạn này, tuy nhiên sự nhận thức sẽ trở nên càng trong sáng ở những giai đoạn cao hơn. Do đó hành giả không nên chuyên tâm đến những đề mục suy niệm. Trong khi đó hành giả chuyên tâm ghi nhận nhiều đến những đề mục chú niệm về không, tuy vậy hành giả cũng phải ghi nhận những sự suy niệm này nếu chúng xảy ra, nhưng hành giả không nên dừng lại ở chúng.




Sau khi thực chứng tam tướng, hành giả không suy niệm lâu nữa, mà tiếp tục chú niệm đề mục thân tâm mà đã liên tục giới thiệu chúng. Như vậy ở thời điểm khi ngũ quyền - tín, tấn, niệm, định, tuệ - được quân bình hoàn toàn, chú tâm gia tăng dường như nó trở nên cao tột, và quá trình thân tâm được chú niệm cũng sanh khởi nhiều hơn. Trong lúc thở vào, phồng ở bụng tự nó xuất hiện liên tục nhanh chóng, và xẹp cũng trở nên nhanh chóng hơn một cách tương ứng. Sự liên tục nhanh chóng thì cũng rõ trong quá trình co và duỗi. Những cử động nhẹ nhàng hành giả cảm thấy truyền khắp châu thân. Trong nhiều trường hợp, cảm giác kim châm và ngứa ngái xuất hiện liên tục nhanh chóng. Nói chung, đây là những cảm giác khó chịu mà phải cưu mang. Nếu hành giả cố chú niệm chúng bằng lời thì có lẽ không thể tiến bộ bằng những kinh nghiệm thay đổi liên tục đó. Ở đây chú niệm phải tu tập bằng nhiều hình thức, nhưng có chánh niệm. Trong giai đoạn này hành giả không cần phải chú niệm đề mục tỉ mỉ sanh khởi nhanh chóng, mà phải chú niệm chúng chung chung. Nếu hành giả muốn đặt tên chúng thì tên tập hợp sẽ được đầy đủ hơn. Hành giả sẽ mệt ngay nếu cố bám sát chúng trong hình thức có chi tiết. Ðiều quan trọng là chú niệm rõ và hiểu rõ những gì sanh khởi. Ở giai đoạn này quán niệm thông thường tập trung vào một vài đề mục đã chọn lựa, phải được loại bỏ và ghi nhớ phải chú trọng đến mỗi đề mục ở sáu giác quan. Chỉ khi nào hành giả chưa nhạy bén trong loại chú niệm này, thì hành giả trở lại quán niệm bình thường.




Tiến trình thân tâm nhiều lúc còn nhanh hơn cái nháy mắt hoặc là tia chớp. Tuy nhiên, nếu đơn thuần tiếp tục chú niệm những tiến trình này, thì hành giả có thể nhận biết đầy đủ thân tâm khi chúng xảy ra. Chánh niệm trở nên mạnh mẽ. Do quả đó, chánh niệm dường như thể bám sát vào đề mục mà nó phát sinh. Ðề mục dường như cũng rực sáng với tâm chánh niệm. Hành giả nhận thức thấu đáo mỗi đề mục rõ ràng và tỉ mỉ hơn, do đó hành giả tin rằng: "Quá trình thân tâm thì thực sự nhanh chóng. Thân tâm nhanh như chiếc máy hay động cơ. Và lúc này tiến trình đó đến có thể được nhận thức và hiểu biết sâu sắc. Có lẽ không có cái gì hay hơn là để chú niệm. Những gì được chú niệm thì đã chú niệm rồi". Hành giả tin như vậy là bởi vì hành giả nhận biết bằng kinh nghiệm trực tiếp những gì mà mình thậm chí chưa từng mơ tưởng trước đây.




Lại nữa, kết quả của tuệ quán, là một ánh sáng chói lọi sẽ xuất hiện đến hành giả. Lúc đó hành giả cũng phát sanh hỷ lạc, hiện tuong hỷ lạc là "da sởn gai ốc, nước mắt chảy xuống, rung rinh chân tay". Hỷ lạc mang lại cho hành giả một niềm vui và một sự hồi hộp lạ kỳ. Hành giả cảm thấy dường như đang đu đưa. Thậm chí còn hỏi lại mình không biết có bị choáng váng hay không. Vậy thì, nơi đó tâm an tịnh phát sinh và song song với tâm an tịnh thì lại xuất hiện tâm khinh an... lúc đi, đứng, nằm, ngồi, hành giả hoàn toàn cảm thấy dễ chịu. Cả hai thân tâm đều khinh an trong tư thế nhẹ nhàng, dễ chịu có thể chú tâm vào bất kỳ đề mục nào để lòng tham không còn gia tăng nữa. Hành giả đã khai thông được sự cứng rắn, nóng nảy, hay đau nhức.




Tuệ giác thể nhập vào trong những đề mục bằng sự dễ chịu. Tâm trở nên vững chắc và ngay thẳng, và hành giả mong muốn thoát ly tất cả bất thiện pháp. Nhờ niềm tin mạnh mẽ, cho nên tâm vô cùng sáng suốt. Ðôi khi lúc đó không còn đề mục nào để chú niệm cả, thời gian rất lâu, tâm vẫn còn an trụ, hành giả có thể khởi lên sự suy nghĩ như thế này: "Thật vậy, đức Phật là một bậc hoàn toàn giác ngộ. Chính xác hơn, tiến trình thân và tâm đều là vô thường, khổ não, vô ngã". Trong khi chú niệm đề mục thiền, hành giả thực chứng được tam tướng đó. Hành giả muốn khuyên những người khác tu tập thiền quán, thì mình phải tự dứt bỏ sự lười biếng và hôn trầm; tinh tấn của hãnh giả không có xao lãng mà cũng không có căng thẳng quá. Ðối với hành giả, lúc đó tâm xả phát sanh liên quan với tuệ giác. Sự an lạc vượt lên trên tất cả những kinh nghiệm cũ của hành giả. Ðo đó hành giả muốn chia sẻ những kinh nghiệm và những cảm xúc của mình cho những người khác. Nơi đó sanh lên sự chấp thủ vào thiên nhiên huyền ảo kia đến nỗi hành giả dính mắc vào tuệ giác đó, tuệ giác đó thì liên quan với ánh sáng, chánh niệm và hỉ lạc. Hành giả trải qua tất cả những điều này như là hỉ lạc của thiền định.




Hành giả không nên suy niệm đến những điều xảy ra như thế. Như mỗi lần phát sanh, nên chú niệm chúng như vầy: ánh sáng, niềm tin, hỉ lạc, tâm xả, hạnh phúc. Lúc nào có ánh sáng, hành giả nên chú niệm ánh sáng cho đến khi nào nó biến mất. Tương tự trong những trường hợp khác, những hành động chú niệm cũng phải làm như vậy. Lúc đầu khi ánh sáng xuất hiện, hành giả thất niệm và thích nhìn thấy ánh sáng. Thậm chí hành giả còn hoan hỉ chú niệm đến ánh sáng nữa là khác, ánh sáng sẽ hòa nhập với những cảm giác hỉ lạc và hạnh phúc, và có lẽ nó còn vương vướng đâu đó. Tuy nhiên về sau hành giả quen với hiện tượng này và sẽ tiếp tục chú niệm chúng nhiều hơn cho đến khi nào chúng biến mất. Ðôi khi ánh sáng quá rực rỡ đến nỗi hành giả thấy ánh sáng, suy nghĩ khó mà làm nó tiêu tan trong phạm vi chú niệm ánh sáng luôn khi. Như thế hành giả không nên chú niệm ánh sáng nữa và xoay qua chú niệm liên tục bất kỳ đề mục nào mà phát sanh trong thân của hành giả. Hành giả không nên suy nghĩ là ánh sáng còn ở đó chăng. Nếu có như vậy, có lẽ hành giả thấy ánh sáng. Nếu như suy nghĩ này phát sanh, hành giả nên phân tán ánh sáng bằng sự chú tâm liên tục đến mỗi sự suy nghĩ đó. Trong khi định mạnh mẽ, không những ánh sáng mà còn những đề mục khác nữa có thể phát sanh và sẽ duy trì nếu hành giả muốn khích lệ ai hay người nào khác tu tập. Nếu như sở thích như vậy nảy sinh, hành giả phải chú niệm nó kịp thời. Trong nhiều trường hợp, thậm chí không có sở thích như thế đối với bất kỳ đề mục nào nói riêng, thì những đề mục mờ nhạt xuất hiện lần lượt cái nọ sang cái kia giống như toa xe lửa. Thế thì hành giả phải phản ứng lại bằng thị giác đơn thuần là thấy, thấy, và mỗi đề mục đó sẽ biến mất. Khi nào tuệ giác của thiền sinh trở nên yếu kém, thì những đề mục trở nên rõ hơn. Vậy thì mỗi đề mục phải chú niệm cho đến khi nào hàng loạt đề mục biến mất hoàn toàn.




Hành giả nên nhận biết thực tế rằng ấp ủ một sở thích cho hiện tượng như là ánh sáng và sẽ bị dính mắc vào chúng, đó là một thái độ sai lầm. Sự trả lời đúng đó là tuân theo con đường của tuệ minh sát, là để chú niệm những đề mục này chuyên chú cho đến khi nào chúng diệt. Khi nào hành giả liên tục áp dụng chánh niệm cho thân và tâm, thì tuệ giác của hành giả sẽ phát triển mạnh mẽ. Hành giả sẽ trực tiếp nhận thức rõ ràng hơn những quá trình phồng xẹp của thân tâm. Sẽ trực tiếp hiểu rằng mỗi đề mục sanh lên ở một nơi nào và trên mỗi nơi đó nó sẽ diệt đi. Hành giả sẽ biết rằng sự việc xảy ra trong quá khứ là một điều và sự việc xảy ra tiếp theo là một điều khác nữa. Do đó, ở mỗi hành động chú niệm, hành giả hiểu rõ những tướng trạng của vô thường, khổ não, vô ngã. Sau khi suy niệm một thời gian đáng kể như vậy, hành giả có thể trực tiếp tin tưởng rằng: "Chắc chắn đây là con đường tốt nhứt mà có thể đạt được, không có con đường nào tốt hơn nữa đâu", và hành giả trở nên quá hoan hỉ với sự tiến bộ của mình mà có lẽ hành giả chờ đợi và thư giãn. Tuy nhiên hành giả không nên thư giãn ở giai đoạn này, mà hãy tích cực tu tập chánh niệm liên tục lâu dài ở những tiến trình thân và tâm này.




Bằng sự trao dồi tu tập, và khi đó tuệ giác trở nên già dặn hơn, những đề mục phồng không còn rõ đối với hành giả nữa; hành giả chỉ chú niệm diệt của đề mục mà thôi. Ðề mục diệt thì quá mau lẹ. Vì thế cho nên hãy thực hiện những quá trình chú niệm đề mục tâm. Ví dụ, trong khi niệm phồng ở bụng, chuyển động phồng đó diệt trong nháy mắt. Và cùng với phương pháp diệt đó cũng có tiến trình niệm tâm. Thật vậy điều đó hành giả sẽ nhận biết rõ rằng cả hai phồng và xẹp lập tức diệt lần lượt cái nọ sang cái kia. Trong trường hợp cũng giống như đề mục xẹp ở bụng, ngồi, co duỗi tay chân, tay chân co cứng. Ðề mục niệm và tuệ diệt của nó xuất hiện hàng loạt nhanh chóng. Một số hành giả nhận thức tỉ mỉ trong ba giai đoạn: niệm đề mục, đề mục diệt, và tâm thức diệt mà biết rằng đang diệt - tất cả thì nối tiếp nhau diệt nhanh chóng. Tuy nhiên điều đó có khả năng để nhận biết được sự hoại diệt của đề mục và tâm thức diệt, được như vậy, là nhờ chú niệm vào sự hoại diệt đó.




Khi nào một mình hành giả chú niệm rõ những đôi liên tục này, thì đối với hành giả những điểm đặc biệt như thân thể, đầu, tay chân không còn hiện rõ nữa, và đối với hành giả lúc đó nảy sinh ý nghĩ rằng mọi thứ thì diệt và hoại diệt. Ở giai đoạn này có lẽ hành giả cảm thấy rằng sự suy niệm của mình chưa có đạt đến mục tiêu. Nhưng trong thực tế, điều đó không phải như vậy. Thông thường tâm thích thú trú vào cảnh hình thức và điểm đặc biệt. Khi nào hình thức và đặc điểm vắng, thì tâm không có thỏa mãn. Thực tế, đây là một sự biểu lộ tuệ giác tiến triển. Lúc bắt đầu, nó là những đặc điểm và tên gọi của đề mục mà trước tiên hành giả phải chú niệm rõ, nhưng bây giờ vì sự tiến bộ, trước hết hành giả phải chú niệm cho đề mục biến mất. Chỉ niệm nhiều lần sẽ làm cho những hình dáng đó hiện trở lại, nhưng nếu chúng chưa được chú niệm thì sự thật của sự hoại diệt lại xuất hiện mạnh mẽ hơn. Do đó hành giả nhận biết bằng kinh nghiệm trực tiếp của chân lý là: "Bao giờ tên hay tuổi hiện hữu, thì chơn lý mờ nhạt, bao giờ chân lý được khám phá, thì tên hay tuổi sẽ biến mất".




Lúc hành giả niệm rõ những đề mục, hành giả nghĩ rằng những sự chú niệm của mình chưa đủ nhiệt tâm. Ðiều này là bởi vì tuệ giác thì quá nhanh và quá rõ đến nỗi hành giả trực tiếp nhận biết ngay tiềm thức nhứt thời nằm giữa quá trình của sự nhận thức. Hành giả dự định làm cái gì đó, ví dụ co hay duỗi tay, thì hành giả sẵn sàng niệm dự định do đó dự định biến mất, với kết quả đó hành giả không thể co hoặc duỗi tay nhanh được. Trong điều kiện đó, hành giả phải liên tục và đơn thuần chuyển tác ý của mình đến sự quán niệm những sự việc xảy ra hiện tại ở một trong sáu giác quan.




Nếu hành giả mở rộng sự quán niệm toàn thân, thông thường bắt đầu chú niệm phồng và xẹp ở bụng, hành giả không bao lâu nữa sẽ có được một lực thúc đẩy, và sau đó hành giả phải liên tục chú niệm xúc chạm và nhận biết, hoặc thấy và nhận biết, hoặc nghe và nhận biết..., khi việc này hoặc việc khác xảy ra. Trong khi làm như vậy, nếu hành giả cảm thấy rằng mình vừa bồn chồn hay vừa mệt, thì hành giả phải trở lại sự chú niệm phồng và xẹp ở bụng. Sau một thời gian, hành giả có một lực thúc đẩy trở lại thì hành giả phải chú niệm bất kỳ đề mục nào khởi lên trong thân tâm.




Lúc hành giả niệm tốt như vậy, dù là hành giả không có chú niệm đề mục bằng sự tinh tấn, hành giả biết những gì mình nghe đã biến mất đi, những gì hành giả thấy đã bị tan biến thành nhiều mãnh, mà không có sự liên tục giữa những phần này. Ðây là những điều đang thấy khi chúng thật sự xảy ra. Một số hành giả không thấy rõ những gì đang xảy ra bởi vì sự đoạn diệt thì quá nhanh đến nỗi các hành giả cảm thấy thị giác của mình trở nên thô thiển hơn hay bị choáng váng. Nó không phải như vậy. Ðơn thuần là hành giả thiếu lực nhận thức để niệm những gì xảy ra trước và sau đó, bằng kết quả đó hành giả không thấy được những tướng trạng hay sắc pháp. Mỗi lần như vậy hành giả nên thư giãn và dừng lại sự quán niệm. Nhưng quá trình thân và tâm liên tục xuất hiện với hành giả, và tâm thức luôn luôn chú niệm tiến trình thân tâm. Hành giả có thể có ý định đi ngủ, nhưng không buồn ngủ và vẫn còn khỏe mạnh và tỉnh táo. Hành giả không cần phải lo về sự mất ngủ; bởi vì sự định tâm của hành giả sẽ giúp cho hành giả không cảm thấy mệt mỏi hay đau ốm. Hành giả phải tích cực chú niệm và sẽ thấy rằng tâm của mình hoàn toàn có khả năng cảm nhận những đề mục đầy đủ và rõ ràng.




Lúc chú niệm chuyên chú, thì cả hai sự đoạn diệt của đề mục và động tác niệm đề mục, hành giả phản tỉnh rằng: "Ngay cả cái chớp mắt hay một lóe sáng thì không có gì tồn tại lâu. Hành giả chưa thực chứng điều này trước đây. Bởi vì nó dừng lại và hoại diệt trong quá khứ cho nên tin chắc là nó cũng dừng lại và hoại diệt trong tương lai". Hành giả chú niệm như là một sự phản tỉnh. Bên cạnh giữa sự quán niệm, có lẽ hành giả có cảm nhận sợ hãi. Hành giả phản tỉnh: "Ai thụ hưởng đời sống, thì sẽ không hiểu biết được chân lý. Bây giờ ai hiểu biết được chân lý luôn luôn sanh dệt điều đó thật là một điều đáng kính trọng. Ở mỗi lúc sanh diệt hành giả có thể chết điếng người đi. Bắét đầu kiếp sống này, chính sanh diệt là một điều đáng sợ. Như vậy là lập lại phồng liên tục. Ðể tinh tấn ngăn lại tướng vô thường để hạnh phúc và an lạc là điều phù phiếm. Tái sanh là một điều đáng sợ bởi vì nó sinh ra sự sống bằng sự tái diễn của những đề mục đang diệt và luôn luôn biến mất. Tật là đáng sợ lúc già, lúc chết, lúc nếm mùi sầu, bi, khổ, ưu và não". Sự phản tỉnh này phải được chú niệm và sau đó buông bỏ.




Sau đó hành giả không thấy gì cả để nương tựa và đạt được điều đó bởi vì thân tâm cũng trở nên bị yếu. Hành giả bị trói buộc bởi tâm trạng chán ngán. Không còn sáng suốt và linh hoạt nữa. Nhưng hành giả không nên thất vọng. Hoàn cảnh của hành giả như thế là dấu hiệu sự tiến bộ của tuệ giác. Không có gì bất hạnh hơn đang lúc biết sợ hãi. Hành giả phải chú niệm sự phản tỉnh như vậy và liên tục niệm những đề mục khi chúng sanh khởi, lần lượt cái nọ sang cái kia. Cảm giác không an lạc này sẽ biến mất. Tuy nhiên nếu hành giả thất niệm một lát, lúc đó sầu sẽ tự quả quyết và sợ hãi sẽ khống chế hành giả. Ðây là loại sợ hãi không có liên quan với tuệ giác. Do đó, sự thận trọng phải được thực hiện để ngăn chận sự sợ hãi khó ưa sắp xảy đến như thế bằng quán niệm chuyên chú.




Lại nữa, giữa lúc chú niệm đề mục, có lẽ hành giả nhận thấy những điều thiếu sót trong hình thức này: "Tiến trình thân và tâm này là vô thường, là bất lạc. Ðể tái sinh đó là một điều không tốt. Cả hai không phải là điều đáng mong muốn để duy trì trong cuộc sống này. Thật là ngao ngán thấy được sự xuất hiện của hình thức và đặc điểm chế định của những đề mục trong thực tế chúng không có thực. Thật là vô ích cho hành giả thực hiện tinh tấn để tìm kiếm sức khỏe và hạnh phúc. Tái sinh không phải là điều ước muốn. Già, chết, sầu, bi, khổ và não là một điều đáng sợ". Phản tỉnh bản chất này phải được chú niệm như thế.




Như thế hành giả hướng đến cảm thọ thân và tâm đó như là đề mục và xem nó khá mộc mạc, thấp kém và không có giá trị. Nhờ chú niệm sanh và diệt, hành giả trở nên ngao ngán chúng. Có thể hành giả xem thân chính mình đang bị già nua và đang bị phân hủy. Hành giả quán nó như chúng sinh rất mỏng manh.




Ở giai đoạn đó, trong lúc hành giả đang niệm mọi thứ đều sanh khởi trong thân và tâm hành giả, hành giả trở nên chán ghét nó. Mặc dù hành giả nhận biết rõ sự tan rã của chúng bằng một chuỗi niệm tốt nhưng hành giả không còn tỉnh táo và sáng suốt nữa. Sự quán niệm của hành giả căn cứ vào sự nhàm chán. Do đó hành giả trở nên lười biếng. Tuy nhiên hành giả không thể nào chế ngự được sự quán niệm. Ví dụ, điều đó giống như hành giả cảm thấy chán ghét mỗi bước đi lúc phải đi trên con đường bùn lầy và dơ dáy nhưng mà hành giả không thể nào dừng bước được. Không thể nào nhờ sự giúp đỡ mà phải tiếp tục. Lúc đó hành giả thấy cõi nhân loại như đối tượng thực tại cho quá trình hoại diệt, và không còn thích thú tái sanh trở lại làm người, đàn ông, đàn bà, vua hay triệu phú. Hành giả có cùng cảm tưởng là hướng đến cảnh trời.




Lúc trải qua tuệ này, hành giả cảm thấy nhàm chán sắc pháp, chú niệm ở hành giả lúc đó khởi lên ý muốn đoạn trừ sắc pháp hay giải thoát chúng. Thấy, nghe, đụng, phản tỉnh, đứng, ngồi, co, duỗi, niệm, - hành giả muốn đoạn trừ chúng tất cả. Nếu chú niệm vào ước muốn này, hành giả mong thoát khỏi tiến trình danh sắc. Hành giả phản tỉnh rằng: "Mỗi lần tôi niệm danh sắc, tôi gặp phải những chướng duyên, tất cả đều là bất thiện. Tốt hơn tôi nên dừng niệm". Hành giả nên lưu ý sự phản tỉnh như vậy.




Một số hành giả, lúc suy niệm như vậy, thì thực tế không ghi nhận được sắc pháp. Mặc dù hành giả niệm như thế, nhưng sắc pháp không dừng diễn tiến, nghĩa là: phồng, xẹp, co, duỗi, dự định... chúng diễn tiến liên tục. Sự chú niệm sắc pháp khác nhau cũng liên tục. Do đó, sự suy niệm như vậy hành giả cảm thấy hoan hỉ: "Mặc dù tôi dừng niệm thân tâm, nhưng sắc pháp thì tất cả đều diễn tiến giống y nhau. Chúng đang sanh, và tâm thức của chúng thì ở đó. Cho nên để vượt ra khỏi chúng, hành giả không thể đạt được kết qua bằng cách chỉ ngưng sự ghi nhận chúng. Các hành giả không thể nào từ bỏ phương pháp này. Niệm chúng thường xuyên, tam tướng của cuộc đời sẽ được chứng đắc trọn vẹn và lúc đó không còn chú ý đặt để chúng nữa, tâm xả được thành tựu. Kết thúc những sắc pháp này, Níp-bàn sẽ được chứng đắc. An lạc và hạnh phúc sẽ hiển lộ". Sự phản tỉnh như vậy có hỉ lạc, hành giả tiếp tục chú niệm những sắc pháp nữa. Trong trường hợp những hành giả đó không thể nào phản tỉnh được trong phương pháp này, các vị tiếp tục hành thiền của mình đã có một lần các vị trở nên thỏa mãn với lời giải thích của thầy mình rồi.




Lúc liên tục hành thiền các vị có được đà tiến triển và lúc đó, ở một vài trường hợp những cảm thọ khổ khác phát sinh. Ðiều kiện này không phải là nguyên nhân tuyệt vọng. Ðiều đó chỉ biểu lộ đặc tướng trong khối đau khổ cố hữu này, như đã trình bày trong chú giải như sau: "Thấy năm uẩn là đau khổ, là bệnh tật, là ung nhọt, là nhát dao, là tai họa, là phiền não, ..." Thậm chí những cảm thọ đau khổ như thế đã chưa từng trải qua, một trong những tướng trạng vô thường, khổ não và vô ngã sẽ hiển nhiên ở mỗi sự chú niệm. Mặc dù hành giả đang chú niệm chính xác, nhưng cảm thấy rằng chưa thực hành đúng lắm. Hành giả nghĩ rằng tâm chú niệm và đề mục niệm chưa đủ khắn khít lắm. Ðiều này là bởi vì hành giả quá háo hức để cảm nhận đầy đủ về bản chất của tam tướng. Không đáp ứng được sự quán niệm nên hành giả thay đổi tư thế thường xuyên. Lúc thiền tọa hành giả suy nghĩ sẽ thiền hành tốt hơn. Lúc thiền hành, hành giả lại muốn tiếp tục thiền tọa. Sau khi đã ngồi xuống hành giả thay đổi oai nghi. Muốn đi đến nơi khác nữa, muốn nằm xuống. Cho dù hành giả thể hiện những sự thay đổi này nhưng không thể nào duy trì một oai nghi đặc biệt nào lâu được. Lại nữa, hành giả trở nên bồn chồn. Nhưng không nên thất vọng. Tất cả điều này xảy ra là vì hành giả thực chứng được bản chất thật của sắc pháp rồi; và cũng vậy, vì hành giả chưa đạt đến tuệ hành xả về sắc pháp. Hành già đang tu tập tốt và lúc này hành giả cảm thấy khác với dự đoán. Phải nên cố trung thành một tư thế, và sẽ thấy rằng lúc đó mình dễ chịu trong tư thế đó. Liên tục niệm những sắc pháp nhiệt huyết, tâm hành giả dần dần sẽ trở nên điềm tỉnh và trong sáng. Cuối cùng những cảm giác bồn chồn của hành giả sẽ biến mất hoàn toàn.




Lúc tuệ hành xả thuộc sắc pháp trở nên già dặn, thì tâm sẽ rất trong sáng và có thể chú niệm sắc pháp rất rõ. Chú niệm vạản hành một cách dịu êm dường như không cần tinh tấn mà vẫn đạt được. Sắc pháp vi tế cũng được niệm mà khỏi cần tinh tấn. Thực tướng vô thường, khổ não, vô ngã đang trở nên hiển nhiên mà không cần sự phản tỉnh nào. Tác ý được trực tiếp đến một nơi đặc biệt ở bất kỳ phần thân thể nào mà cảm thọ phát sinh, nhưng cảm thọ thì dễ chịu giống như loại vải dệt thật mỏng. Ðôi khi những đề mục được niệm trên toàn thân quá nhiều đến nỗi sự chú niệm phải gia tăng tốc độ. Cả hai thân và tâm xuất hiện để có sự ưu thế. Những đề mục được chú niệm trở nên thưa dần và hành giả có thể niệm chúng dễ dàng và an tịnh hơn. Ðôi khi sắc pháp biến mất hoàn toàn, chỉ duy nhất để lại danh pháp mà thôi. Thế thì chính hành giả sẽ trải qua trong suốt cảm giác hỉ lạc dường như đang thích thú một vòi nước tắm nho nhỏ. Hành giả cũng tràn ngập với cảnh sóng yên biển lặng. Cũng thấy ánh sáng giống như một bầu trời trong xanh. Tuy nhiên những kinh nghiệm biểu hiện trên, không có ảnh hưởng quá mức cho hành giả. Hành giả không có vui mừng quá độ, mà vẫn thích thú chúng. Hành giả phải niệm sự thích thú này, cũng phải niệm hỉ lạc và ánh sáng. Lúc chú niệm nếu chúng không diệt, thì không nên chú ý đến chúng nữa và niệm bất kỳ đề mục nào khác sanh khởi.




Ở giai đoạn này hành giả làm tròn nhiệm vụ với tuệ giác mà không có tôi, của tôi, bản ngã, mà chỉ có pháp hành phát sanh thôi, chỉ có pháp hành thì mới đang nhận thức những pháp hành khác được thôi. Hành giả cũng cảm nhận sung sướng trong sự chú niệm những đề mục lần lượt đề mục này sang đề mục kia. Hành giả không có ngao ngán niệm chúng lâu dài. Hành giả thoát khỏi những cảm thọ đau khổ rồi. Do đó oai nghi nào hành giả lựa chọn thì có thể duy trì nó lâu dài. Cả ngồi lẫn nằm, hành giả có thể tiếp tục quán niệm hai hoặc ba giờ mà không có gặp phải phiền toái, trải qua thời gian của mình không biết mệt mỏi. Thậm chí sau thời gian đó oai nghi của hành giả cũng vững chắc như trước đây.




Thỉnh thoảng pháp hành phát sinh nhanh nhẹn và hành giả đang niệm chúng khá tốt. Sau đó hành giả có thể trở nên lo âu đối với những gì xảy ra cho mình. Hành giả nên niệm sự lo âu này. Hành giả cảm nhận rằng mình đang tu tập tốt. Nên niệm những cảm giác này. Mong đợi sẽ tiến bộ trong tuệ giác. Hành giả nên niệm chặn trước. Nên niệm một cách vững chắc những gì phát sinh lên. Hành giả không nên cố hết sức mà hãy thư giãn. Trong một vài trường hợp, vì lo âu, an lạc, dính mắc, hay là mong đợi, sự chú niệm trở nên lơ là và yếu kém. Một số hành giả nghĩ rằng mục tiêu thì rất là gần gũi, hãy quán niệm với năng lực mạnh mẽ. Ðang khi làm như vậy, sự chú niệm trở nên lơ là và yếu kém. Ðiều này xảy ra là vì tâm trạo cử không thể tập trung trên pháp hành hoàn toàn được. Vì vậy khi sự suy niệm ở trong một quá trình hoạt động tốt, hành giả phải tiếp tục suy niệm tinh tấn, có nghĩa là hành giả đừng nên lơ là mà cũng đừng nên cố gắng quá sức. Nếu hành giả tiếp tục thực hiện một cách có nguyên tắc như vậy, thì sẽ đạt được tuệ giác mau lẹ và dẫn đến sự hiểu biết sâu sắc những pháp hành và thực chứng được Níp-bàn. Trong một số trường hợp của một ít hành giả vào giai đoạn này đôi khi có thể ghi nhận tốt hơn và sau đó lại không. Hành giả đừng nên đầu hàng và thất vọng thay vào đó phải giữ vững quyết tâm. Hãy lưu ý dành sự chú niệm cho bất cứ điều gì phát sinh ở sáu giác quan. Tuy vậy khi niệm thì không được diễn tiến một cách thoải mái và yên ả, sự quán niệm trong phương cách mở rộng như thế này thì không thể nào đạt được.




Nếu hành giả bắt đầu bằng cái phồng hoặc bằng cái xẹp ở bụng hoặc bằng bất kỳ đề mục thân tâm nào khác, hành giả thấy rằng mình đang có đà tiến bộ. Và lúc đó sự chú niệm sẽ tiếp diễn một cách thoải mái và yên ả. Hành giả sẽ thấy rằng mình đang quan sát liên tục về sự sanh và diệt của tất cả các pháp hành với một tính cách rõ ràng. Ở giai đoạn này, tâm hành giả hoàn toàn giải thoát tất cả phiền não. Tuy nhiên đề mục có thể là thích thú và hấp dẫn thì không còn lôi cuốn hành giả nữa. Tuy vậy một lần nữa có lẽ đề mục bất tịnh, không còn làm khó chịu hành giả nữa. Ðơn thuần hành giả thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm xúc, hay nhận biết. Hành giả niệm tất cả pháp hành bằng sáu loại tâm xả đã trình bày trong kinh điển. Hành giả bận quán niệm, thậm chí không biết đến độ dài của thời gian. Ngay khi ngũ quyền (Indriya) tín, tấn, niệm, định, tuệ được tu tập trong một phương pháp ngang nhau, thì hành giả sẽ chứng ngộ được Níp-bàn.




Ở giai đoạn này, ngài Mahasi trình bày làm thế nào hành giả kinh nghiệm được Níp-bàn, nhưng lời giải thích này không có hữu ích cho hầu hết các hành giả. Biết nhiều và phát huy những điều mong đợi đó là một điều nguy hiểm thay vì thấy rõ những gì xảy ra đến với mình trong giờ phút hiện tại.




Ai đạt được tuệ Níp-bàn thì nhận biết được sự thay đổi rõ rệt của tính khí và thái độ tâm của mình và cảm nhận rằng cuộc đời mình đã vô thường. Niềm tin đối với Phật Pháp Tăng trở nên kiên cố hơn. Do niềm tin kiên cố nên hành giả đạt được hỷ lạc và điềm tỉnh. Lúc đó phát sinh hạnh phúc thanh thoát. Bởi vì những kinh nghiệm sung sướng này, hành giả không thể nào niệm những đề mục trong một phương pháp riêng biệt được mặc dù hành giả cố gắng thực hiện khá tốt sau khi trải qua kinh nghiệm Níp-bàn. Tuy nhiên, những kinh nghiệm này dần dần suy yếu sau một vài giờ và một vài ngày, và lúc đó hành giả sẽ có thể một lần nữa chú niệm pháp hành một cách rõ hơn. Trong một vài trường hợp, những hành giả sau khi đạt được Níp-bàn, cảm thấy gánh nặng lớn nhẹ bớt, tự do và thoải mái, và không muốn tiếp tục sự quán niệm nữa. Ðề mục của hành giả đã đạt được và hành giả có thể hiểu được nội tâm mình. Vậy thì hành giả có thể tiếp tục giai đoạn thực hành cao hơn nữa.




Ghi chú đặc biệt




Kĩ thuật thiền quán đại cương trong luận thuyết này dành cho những người có khả năng hiểu biết khá tốt. Những người như thế, sau khi đọc nó, nếu thực hành với niềm tin vững chắc, mong muốn cao độ, chuyên cần khá tốt trong một phương pháp có thứ tự, những người đó có thể tiến bộ chắc chắn. Tuy nhiên, điều đó phải được nhận xét rằng những chi tiết kinh nghiệm và những giai đoạn tiến bộ của thiền quán thực hiện do những hành giả không thể nào miêu tả đầy đủ trong luận thuyết ngắn này được. Ở đó vẫn còn lưu lại nhiều vấn đề, thế là lời miêu tả này có giá trị. Trái lại những gì đã trình bày ở đây đối với mọi hành giả chưa có kinh nghiệm qua. Có hướng đến những sự khác nhau theo khả năng và nghiệp báo của hành giả. Lại nữa, niềm tin, mong muốn, và sự chuyên cần của hành giả luôn chưa có gìn giữ kiên định. Hơn nữa, một hành giả không có thầy hướng dẫn và luôn tùy thuộc vào kiến văn sách vở, thì sẽ thận trọng và do dự giống như người đi du lịch mà chưa từng đi một cuộc hành trình đặc biệt nào. Do đó, thật là hiển nhiên không dễ cho ai đó đạt đến đạo quả Níp-bàn nếu hành giả tiếp tục tinh tấn mà không có vị thầy hướng dẫn và động viên mình. Sự việc như vậy, thực ra thì hành giả nỗ lực để hành thiền cho đến khi nào đạt được mục đích của mình (Níp-bàn), là phải tìm một vị thầy có đủ tư cách để hướng dẫn mình suốt con đường từ tuệ thấp nhất đến tuệ cao nhất của đạo quả Níp-bàn. Lời khuyên này thì hoàn toàn phù hợp với những gì được dạy trong kinh điển: "Một vị thầy phải đạt được sự hiểu biết về già, chết, như thật".

Nghiên cứu:

pháp hành

--
http://phattue.org/node/769


CHANH TU DUY/ CHANH-Y



Thu tim cach dich, chanh tu duy la gi:

1. Cau van tieng pali:

‘‘Katamo cāvuso, sammāsaṅkappo? Nekkhammasaṅkappo, abyāpādasaṅkappo , avihiṃsāsaṅkappo, ayaṃ vuccatāvuso – ‘sammāsaṅkappo’’’.
--
http://www.tipitaka.org/romn/

saṅkappo= thought= tu duy= su ngam nghi
sammā= cha' nh
Nekkhammasaṅkappa= (m.) thought of self-abnegation(1).= tu duy voi thai do quen minh
abyāpādasaṅkappo= tu duy voi su vang bong cua 
ac y muon lam ton thuong nguoi khac.
avihiṃsāsaṅkappo= tu duy voi long tu*`
ayaṃ vuccatāvuso – ‘sammāsaṅkappo’’’.=
nay cac tha`y- do la chanh tu duy!
avuso= cac dao huu
vuccati= (vac + ya) to be said or called.
ayam= (số ít của ima) m, f. người này.
--
(1)>> http://www.dhammawiki.com/index.php?title=Neka_to_netva

2. Chanh-Y dich:

Chanh tu duy: suy nghi trong thai do tu quen minh, suy nghi khong ac y, nghi voi long nhan tu, .


3. Mot ban tieng anh da dich la:

"What is right thought? Thought of renunciation, thought of goodwill, thought of not harming — this is called right thought.
--
http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.141.piya.html


--

4. Ban tieng Duc:

Entsagung sinnen, keinen Groll hegen, keine Wut hegen: das nennt man, Brüder, rechte Gesinnung.
--
http://www.palikanon.com/majjhima/m141n.htm

5. HT Minh Chau:

Này chư Hiền, thế nào là chánh tư duy? Tư duy về ly dục, tư duy về vô sân, tư duy về bất hại. Này chư Hiền, như vậy gọi là chánh tư duy.

--
http://www.budsas.110mb.com/uni/u-kinh-trungbo/trung141.htm


Nhan xet: 
Nekkhammasaṅkappa, theo tu dien pali:



(m.) thought of self-abnegation.> su*. que^n mi`nh.\

Trich mot doan Kinh Trung bo 141 ve 8 thanh dao:

1.
Này chư Hiền, thế nào là chánh tri kiến? Này chư Hiền, tri kiến về Khổ, tri kiến về Khổ tập, tri kiến về Khổ diệt, tri kiến về Khổ diệt đạo. Này chư Hiền, như vậy gọi là chánh tri kiến.

2.
Này chư Hiền, thế nào là chánh tư duy? Tư duy về ly dục, tư duy về vô sân, tư duy về bất hại. Này chư Hiền, như vậy gọi là chánh tư duy.

3.
Này chư Hiền, thế nào là chánh ngữ? Tự chế không nói láo, tự chế không nói hai lưỡi, tự chế không ác khẩu, tự chế không nói lời phù phiếm. Này chư Hiền, như vậy gọi là chánh ngữ.

4.
Này chư Hiền, thế nào là chánh nghiệp? Tự chế không sát sanh, tự chế không trộm cắp, tự chế không tà dâm. Này chư Hiền, như vậy gọi là chánh nghiệp.

5. 
Này chư Hiền, thế nào là chánh mạng? Này chư Hiền, ở đây vị Thánh đệ tử từ bỏ tà mạng, sinh sống bằng chánh mạng. Này chư Hiền, như vậy gọi là chánh mạng.

6.
Này chư Hiền, và thế nào là chánh tinh tấn? Này chư Hiền, ở đây Tỷ-kheo, đối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các ác, bất thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn trừ diệt; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn khiến cho sanh khởi; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các thiện pháp đã sanh khởi, khởi lên ý muốn khiến cho an trú, không cho băng hoại, khiến cho tăng trưởng, phát triển, viên mãn; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Này chư Hiền, như vậy gọi là chánh tinh tấn.

7.
Này chư Hiền, thế nào là chánh niệm? Này chư Hiền, ở đây, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời... quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên các tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời. Này chư Hiền, như vậy gọi là chánh niệm.

Này chư Hiền, thế nào là chánh định? Này chư Hiền, ở đây, Tỷ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Vị Tỷ-kheo ấy diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Tỷ-kheo ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này chư Hiền, như vậy gọi là chánh định.
--
http://www.budsas.110mb.com/uni/u-kinh-trungbo/trung141.htm




Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2012

HO NUOC/ DER TEICH/ A POOL OF WATER




1-10 Tâm Ðặt Sai Hướng v.v...


5. 
Ví như, này các tỷ kheo, một hồ nước uế nhớp, bị khuấy động, đục bùn. Tại đấy có người có mắt, đứng trên bờ, không thể thấy các con ốc, các con sò, các hòn sạn, các hòn sỏi, các đàn cá qua lại, đứng yên. Ví cớ sao? Vì nước bị khuấy đục. 

Này các Tỷ-kheo, cũng vậy, vị Tỷ-kheo với tâm bị khuấy đục biết được lợi ích của mình, hay biết được lợi ích của người, hay biết được lợi ích cả hai, hay sẽ chứng ngộ các pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng các bậc Thánh; sự kiện như vậy không xảy ra. Vì cớ sao? Vì rằng tâm bị khuấy đục, này các Tỷ-kheo.

6. 
Ví như, này các Tỷ-kheo, một hồ nước trong sáng, sáng suốt, không bị khuấy đục. Tại đấy có người có mắt, đứng trên bờ, có thể thấy các con ốc, các con sò, các hòn sạn, các hòn sỏi, các đàn cá qua lại, đứng yên. Vì cớ sao? Vì nước không bị khuấy đục, này các Tỷ-kheo. 

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo với tâm không bị khuấy đục biết được lợi ích của mình, hay biết được lợi ích của người, hay biết được lợi ích cả hai, hay sẽ chứng ngộ các pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng các bậc Thánh; sự kiện như vậy có xảy ra. Ví sao? Vì rằng tâm không bị khuấy đục, này các Tỷ-kheo.

http://www.budsas.110mb.com/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi01-0114.htm

A.1.7. Der Teich (V,5-6)

Gleichwie da einer, ihr Mönche, der am Ufer eines trüben, aufgewühlten und schlammigen Teiches steht, trotz seiner Sehkraft unfähig ist, darin die verschiedenartigen Muscheln, den Sand und die Kieselsteine sowie die Scharen der sich darin tummelnden Fische zu erkennen; eben wegen des trüben Wassers: ebenso auch, ihr Mönche, kann der Mönch bei verschlacktem Geiste weder das eigene Heil erkennen, noch das Heil anderer, noch das gemeinsame Heil, und er vermag auch nicht jene ungewöhnliche (uttara-manussa; wtl: übermenschliche) Errungenschaft des zur Heiligkeit befähigenden Erkenntnisblickes (*1) zu verwirklichen; eben wegen seines verschlackten Geistes.

Gleichwie da einer, ihr Mönche, der am Ufer eines klaren, hellen und ungetrübten Teiches steht, mit seiner Sehkraft fähig ist, die verschiedenartigen Muscheln, den Sand und die Kieselsteine sowie die Scharen der sich darin tummelnden Fische zu erkennen; eben wegen des ungetrübten Wassers ebenso auch, ihr Mönche, kann der Mönch bei schlackenfreiem Geiste das eigene Heil erkennen, das Heil anderer und das gemeinsame Heil, und er vermag auch jene ungewöhnliche Errungenschaft des zur Heiligkeit befähigenden Erkenntnisblickes zu verwirklichen; eben wegen seines schlackenfreien Geistes.

(*1) uttaramanussadhamma-alam-ariya-ñānadassana-visesa.
--

http://www.palikanon.de/angutt/a01_001-010.html#a_i7

AN 1.45-46
PTS: A i 9
I,v,5-6
Udakarahaka Suttas: A Pool of Water

translated from the Pali by
Thanissaro Bhikkhu
© 2006–2012
45. "Suppose there were a pool of water — sullied, turbid, and muddy. A man with good eyesight standing there on the bank would not see shells, gravel, and pebbles, or shoals of fish swimming about and resting. Why is that? Because of the sullied nature of the water. In the same way, that a monk with a sullied mind would know his own benefit, the benefit of others, the benefit of both; that he would realize a superior human state, a truly noble distinction of knowledge & vision: Such a thing is impossible. Why is that? Because of the sullied nature of his mind."


46. "Suppose there were a pool of water — clear, limpid, and unsullied. A man with good eyesight standing there on the bank would see shells, gravel, & pebbles, and also shoals of fish swimming about and resting. Why is that? Because of the unsullied nature of the water. In the same way, that a monk with an unsullied mind would know his own benefit, the benefit of others, the benefit of both; that he would realize a superior human state, a truly noble distinction of knowledge & vision: Such a thing is possible. Why is that? Because of the unsullied nature of his mind."

--
"Udakarahaka Suttas: A Pool of Water" (AN 1.45-46), translated from the Pali by Thanissaro Bhikkhu. Access to Insight, 8 August 2010,http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/an/an01/an01.045-046.than.html . Retrieved on 2 December 2012.